Rất nhiều câu hỏi về tình huống thuế TNCN mà doanh nghiệp gặp phải. Trong bài viết này HBK Việt Nam sẽ tổng hợp và giải đáp các thắc mắc đó.

Thuê cá nhân quảng cáo sản phẩm
Trường hợp Công ty thuê cá nhân thực hiện quảng cáo sản phẩm, nếu cá nhân này không có đăng ký kinh doanh thì thu nhập từ quảng cáo chịu thuế theo quy định về tiền lương, tiền công. Công ty khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến (nếu có ký HĐLĐ từ 3 tháng trở lên) hoặc theo tỷ lệ 10% (nếu không ký HĐLĐ hoặc ký HĐLĐ dưới 3 tháng) theo quy định tại Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC . 

Nếu cá nhân thực hiện quảng cáo cho Công ty có đăng ký kinh doanh thì được xác định là thu nhập từ hoạt động kinh doanh và chịu thuế theo quy định tại Điều 10, Phụ lục I Thông tư 40/2021/TT-BTC (gồm: 5% thuế GTGT và 2% thuế TNCN).

Công văn số 8205/CTHN-TTHT ngày 28/2/2023 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chính sách thuế TNCN
Khen thưởng người lao động lập thành tích xuất sắc phải khấu trừ thuế
Theo Công văn số 20479/CTHN-TTHT ngày 10/4/2023 của Cục thuế TP. Hà Nội, trường hợp người lao động có phát sinh khoản thu nhập từ khen thưởng khi lập thành tích xuất sắc thì đây là khoản lợi ích ngoài tiền lương mà người lao động được hưởng, phải chịu thuế TNCN theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC

Doanh nghiệp chi thưởng phải thực hiện khấu trừ thuế TNCN trước khi chi trả cho người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC

Chi thưởng cho cộng tác viên có phải khấu trừ thuế TNCN
Trường hợp doanh nghiệp chi tiền thưởng cho cộng tác viên, nếu tiền thưởng này có tính chất tiền lương, tiền công và cộng tác viên không có hoặc có HĐLĐ dưới 3 tháng thì phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC . 

Trường hợp doanh nghiệp tặng quà bằng tiền mặt cho cộng tác viên thì khoản thu nhập từ quà tặng bằng tiền không thuộc diện phải chịu thuế TNCN theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC .

Các khoản chi tiền lương tiền công, tặng quà bằng tiền cho cộng tác viên nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC thì được chấp nhận hạch toán, tuy nhiên doanh nghiệp sẽ không được hạch toán khoản thuế nộp thay cộng tác viên.

Công văn số 4985/CTHN-TTHT ngày 13/2/2023 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thuế TNCN, thuế TNDN khoản thưởng cho cộng tác viên
Thuế TNCN khi chi hỗ trợ, tặng quà, phát thưởng cho nhân viên
Trường hợp Công ty chi trả hộ tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động đối với khoản chi hỗ trợ đào tạo này.
Trường hợp Công ty tổ chức các cuộc thi cho CBNV và người thân CBNV nếu phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà cá nhân trúng giải thưởng nhận được thì Công ty thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo hướng dẫn tại tiết g khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC nêu trên.
Trường hợp Công ty chi cho CBNV các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công thì Công ty có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo hướng dẫn tại tiết b khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC
Trường hợp cá nhân người lao động được Công ty tặng quà bằng hiện vật là “Quà tặng bằng thẻ mua hàng (voucher, giftcard) hoặc hiện vật (giỏ quà bánh kẹo, cốc, áo,…” nếu việc tặng quà này không mang tính chất tiền lương, tiền công và không thuộc các khoản quy định tại khoản 10 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì các cá nhân nhận quà tặng nêu trên không phải kê khai, nộp thuế TNCN đối với quà tặng này.
Công văn số 3469/CTHN-TTHT ngày 1/2/2023 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thuế TNCN đối với quà tặng và thưởng cho nhân viên
Cần biết về chứng từ khấu trừ thuế điện tử
trường hợp Công ty sử dụng chứng từ điện tử khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Nghị định 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ thì:
– Khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tổ chức khấu trừ thuế phải lập chứng từ khấu trừ thuế giao cho người có thu nhập bị khấu trừ thuế và phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 32 Nghị định 123/2020/NĐ-CP.
Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được lựa chọn cấp chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc cấp một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế.
Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân một chứng từ khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế.
Tại Nghị định 123/2020/NĐ-CP không quy định đơn vị phải đăng ký sử dụng và nộp báo cáo tình hình sử dụng chứng từ điện tử khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tới cơ quan thuế.
Nội dung và định dạng chứng từ điện tử khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định tại Điều 32, Điều 33 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính Phủ.
Công văn số 388/CTHN-TTHT ngày 4/1/2023 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chứng từ điện tử khấu trừ thuế TNCN
Cần biết về chứng từ khấu trừ thuế điện tử
trường hợp Công ty sử dụng chứng từ điện tử khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Nghị định 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ thì:
– Khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tổ chức khấu trừ thuế phải lập chứng từ khấu trừ thuế giao cho người có thu nhập bị khấu trừ thuế và phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 32 Nghị định 123/2020/NĐ-CP.
Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được lựa chọn cấp chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc cấp một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế.
Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân một chứng từ khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế.
Tại Nghị định 123/2020/NĐ-CP không quy định đơn vị phải đăng ký sử dụng và nộp báo cáo tình hình sử dụng chứng từ điện tử khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tới cơ quan thuế.
Nội dung và định dạng chứng từ điện tử khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định tại Điều 32, Điều 33 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính Phủ.
Công văn số 388/CTHN-TTHT ngày 4/1/2023 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chứng từ điện tử khấu trừ thuế TNCN
Khoản “hỗ trợ sinh con” có bị tính thuế TNCN?
Cục Thuế TP Hà Nội có ý kiến như sau:

Trường hợp cá nhân người lao động nhận được khoản tiền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập hỗ trợ có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động; mức chi phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế TNDN (Tổng số chi có tính chất phúc lợi của tổ chức, cá nhân trả thu nhập không quá một tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp) thì khoản tiền nhận được này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 11 Thông tư số 92/2015/TT-BTC và điểm 2.30 khoản 2 Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

Theo Công văn số 53673/CTHN-TTHT ngày 7/11/2022 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản hỗ trợ sinh con
* Các tình huống được Tổng cục Thuế trả lời trên Cổng Thông tin điện tử Tổng cục Thuế ngày 22/3/2022
Câu hỏi 1: Cá nhân ký hợp đồng lao đông trên 3 tháng nhưng mới làm việc được 2 tháng xin nghỉ việc vậy tính thuế như thế nào? Và kê khai tại 05-1 hay 05-2

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Do đó, công ty kê khai cá nhân thuộc trường hợp này tại bảng kê 05-1.

Câu hỏi 2: Trường hợp 1 cá nhân làm việc cho công ty trong năm, có 2 tháng ký hợp đồng thử việc đóng thuế theo thuế suất toàn phần, sau đó ký hợp đồng lao động và đóng thuế theo biểu lũy tiến. Vậy cuối năm khi tổng hợp lên mẫu quyết toán TNCN thì công ty sẽ kê khai phần thu nhập tương ứng trên cả 2 bảng kê 05-1 và 05-2 hay chỉ kê tổng thu nhập của cá nhân này trên bảng kê 05-1 (lũy tiến)? Cám ơn Tổng Cục Thuế hỗ trợ!

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú phải khấu trừ thuế theo mức 10%.

Do đó, trường hợp người lao động trong năm vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo thuế suất 10% vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, nếu người lao động có ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại Bảng kê 05-1 (khấu trừ thuế TNCN cho toàn bộ thu nhập người lao động nhận được từ Công ty theo biểu thuế lũy tiến từng phần). Nếu người lao động đó không ủy quyền quyết toán cho Công ty, anh/chị kê khai cá nhân đó tại cả hai bảng kê 05-1 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần) và 05-2 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo mức thuế suất 10%).

Câu hỏi 3: Doanh nghiệp em có chủ sở hữu là công ty tổng và tháng 1/ 2022 công ty tổng có điều chuyển người lao động qua công ty em vậy giờ em quyết toán thuế TNCN năm 2021 cho số người lao động được chuyển qua đúng không ạ, và công ty tổng và công ty em thuộc 2 tỉnh khác nhau vậy nếu ng lao động ủy quyền quyết toán mà nếu có số tiền khấu trừ thuế tncn hoàn lại thì như thế nào ạ và nhờ tổng cục thuế hướng dẫn cách quyết toán cho trường hợp này ạ, em cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm d.1 khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).

Do đó, công ty thực hiện quyết toán thuế theo ủy quyền của cả nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả. 

Câu hỏi 4: Công ty tôi có phát sinh trả thu nhập cho NLĐ vào T1/2021 ( kỳ lương tháng 12/2020) và có thừ BXHX của họ. lúc đó những lao động đó đã nghỉ việc rồi. vì là thhu nhập chưa đến 2 triệu nên cty không trừ 10%. nay cty làm QT thuế TNCN thì những lao động đó cty kê vào bảng 05-1 hay 05-2 ạ.

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế. Do đó, trong trường hợp của Công ty, Công ty trả các khoản thu nhập cho người lao động vào thời điểm sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động thì việc Công ty thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trên khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công theo mức thuế suất 10% và Công ty thực hiện quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập này (tại bảng kê 05-2). 

Câu hỏi 5: Công ty tôi nhân viên thử việc khấu trừ 10% thuế TNCN và đã nộp thuế đủ vào quý thử việc. Lên chính thức đã tính thuế theo từng phần. Phần thử việc kê khai vào mẫu phụ lục 05-2 hay gộp vào phụ lục 05-1. Nếu kê khai vào phụ lục 05-2, thì số người khấu trừ thuế trên tờ khai tính thêm 1 lần cá nhân đó, chỉ tiêu này không tự sửa được. Vậy tôi cần giải quyết trường hợp này như thế nào?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú phải khấu trừ thuế theo mức 10%.

Do đó, trường hợp người lao động trong năm vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo thuế suất 10% vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, nếu người lao động có ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại Bảng kê 05-1 (khấu trừ thuế TNCN cho toàn bộ thu nhập người lao động nhận được từ Công ty theo biểu thuế lũy tiến từng phần). Nếu người lao động đó không ủy quyền quyết toán cho Công ty, anh/chị kê khai cá nhân đó tại cả hai bảng kê 05-1 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần) và 05-2 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo mức thuế suất 10%)

Câu hỏi 6: Cho tôi hỏi, công ty có người ký HDLD từ T1-T10/2021 và ký hợp đồng dịch vụ T11/2021 thì khi quyết toán sẽ kê khai vào biểu 05-1 và 05-2 theo thời gian ký hợp đồng đúng không? xin cám ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú phải khấu trừ thuế theo mức 10%.

Do đó, trường hợp người lao động trong năm vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo thuế suất 10% vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, nếu người lao động có ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại Bảng kê 05-1 (khấu trừ thuế TNCN cho toàn bộ thu nhập người lao động nhận được từ Công ty theo biểu thuế lũy tiến từng phần). Nếu người lao động đó không ủy quyền quyết toán cho Công ty, anh/chị kê khai cá nhân đó tại cả hai bảng kê 05-1 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần) và 05-2 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo mức thuế suất 10%).

Câu hỏi 7: Kính gửi Tổng Cục Thuế, Công ty tôi quyết toán thuế TNCN 2021 thay cho nhân viên. Cho hỏi mẫu để hoàn thuế TNCN trong trường hợp có số thuế nộp thừa? Mong Tổng cục thuế hướng dẫn.

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo hướng dẫn tại điểm a Khoản 1 Điều 42 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính thì hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của tổ chức trả thu nhập gồm:

– Văn bản đề nghị xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa theo mẫu số 01/DNXLNT ban hành kèm theo phụ lục I Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính;

– Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp người nộp thuế không trực tiếp thực hiện thủ tục hoàn thuế, trừ trường hợp đại lý thuế nộp hồ sơ hoàn thuế theo hợp đồng đã ký giữa đại lý thuế và người nộp thuế;

– Bảng kê chứng từ nộp thuế theo mẫu số 02-1/HT ban hành kèm theo phụ lục I Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính (áp dụng cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập).

Câu hỏi 8: Công ty em có ký hợp đồng lao động cho một nhân viên từ 01/01/2015 tới 31/08/2021. 31/08/2021 nhân viên này nghỉ việc. Lương tháng 08/2021 đã trả trong tháng 8/2021 và đã khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến. Sang tháng 10/2021 công ty phát sinh trả tiền trợ cấp thôi việc theo chính sách phúc lợi của công ty: cứ 3 năm làm việc được nửa tháng lương. Phần trợ cấp này công ty em đã khấu trừ thuế theo trường hợp phát sinh thu nhập vãng lai do tại thời điểm trả trợ cấp thì người lao động ko còn làm việc. Câu hỏi: khi quyết toán thuế 2021 thu nhập của nhân viên này được kê trên cả bảng kê 05-1 và bảng kê 05-2 hay chỉ kê trên bảng kê 05-1 dành cho cá nhân tính thuế theo biểu lũy tiến từng phần

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú phải khấu trừ thuế theo mức 10%.

Do đó, trường hợp người lao động trong năm vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo thuế suất 10% vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, nếu người lao động có ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại Bảng kê 05-1 (khấu trừ thuế TNCN cho toàn bộ thu nhập người lao động nhận được từ Công ty theo biểu thuế lũy tiến từng phần). Nếu người lao động đó không ủy quyền quyết toán cho Công ty, anh/chị kê khai cá nhân đó tại cả hai bảng kê 05-1 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần) và 05-2 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo mức thuế suất 10%) 

Câu hỏi 9: Công ty kê khai và tạm nộp thuế TNCN theo tháng, hiện nay đang làm quyết toán thuế TNCN. Khi kê khai hàng tháng có cá nhân phát sinh nộp thuế TNCN, nhưng đến khi quyết toán thì lại không phát sinh thuế TNCN phải nộp. Vậy khi làm quyết toán chúng tôi có phải làm tờ khai bổ sung của tháng đã phát sinh nộp thuế TNCN đó không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 thì trường hợp hồ sơ khai thuế tháng của Công ty đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ hướng dẫn Luật Quản lý thuế thì trường hợp, công ty khai bổ sung không làm thay đổi nghĩa vụ thuế thì chỉ phải nộp Bản giải trình bổ sung và các tài liệu có liên quan, không phải nộp tờ khai bổ sung.

Câu hỏi 10: Trong năm 2021 người lao động làm 10 tháng trong năm và cuối năm không ủy quyền quyết toán thuế TNCN thì người lao động đó được giảm trừ gia cảnh bản thân là 132.000.000 đồng hay 110.000.000 đồng. Và người đó có 1 người phụ thuộc (con sinh năm 2020) thì giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc là 52.800.000 đồng hay là 44.000.000 đồng ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo Điều 1, Nghị quyết 954/2020/NQ-UBTVQH, mức giảm trừ gia cảnh tại Khoản 1, Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 được điều chỉnh như sau:

– Mức giảm trừ gia cảnh đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm).

– Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/người/tháng.

Do vậy, trường hợp của Bạn là cá nhân cư trú thuộc diện trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế trong năm 2021 thì bạn được giảm trừ gia cảnh cho bản thân là 132 triệu đồng/năm và giảm trừ cho người phụ thuộc với mức 4,4 triệu đồng/người/tháng nhân (x) số tháng được tính giảm trừ trong năm 2021 khi bạn thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc. Số tháng tính giảm trừ cho người phụ thuộc trong năm được tính kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Câu hỏi 11: Nếu người lao động có thu nhập ở 2 nơi nhưng chưa đến mức nộp thuế TNCN, hàng tháng chưa khấu trừ 10%. Cuối năm có bắt buộc phải đi quyết toán thuế TNCN k ạ

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại tiết d.3 điểm d Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP thì Trường hợp cá nhân có số thuế thu nhập cá nhân phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống thì không phải quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 12: Công ty tôi có kí hợp đồng lao động thời hạn 1 năm với người lao động nhưng trong đó có nội dung thử việc 2 tháng. Nếu sau 2 tháng người lao động không hoàn thành công việc thì có thể nghỉ việc. Tôi muốn hỏi trong thời gian thử việc 2 tháng đầu tiên thì công ty tôi tính thuế theo biêủ suất lũy tiến hay khấu trừ 10% hoặc có thể làm cam kết để không khấu trừ được không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo hướng dẫn tại điểm b Khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, Trường hợp Công ty bạn ký hợp đồng lao động với người lao động là cá nhân cư trú từ 3 tháng trở lên thì Công ty bạn thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.

Câu hỏi 13: Cty tôi là công ty xây dựng ký hợp đồng với đại diện tổ thợ thi công, kèm theo danh sách thợ có MST TNCN, vây khi quyết toán thuế TNCN phải kê khai phụ lục 05-1/BK- TNCN hay 05-2/BK-tncn và có phải khấu trừ thuế trước khi chi trả hay không

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thì trường hợp công ty bạn trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp những người lao động này ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì người lao động làm cam kết (theo mẫu 08-CK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp người lao động này thuộc trường hợp khấu trừ thuế TNCN theo thuế suất 10% thì kê khai trên Phụ lục số 05-2/BK-TNCN đính kèm tờ khai quyết toán thuế TNCN 05/QTT-TNCN.

Câu hỏi 14: Cho em hỏi về hồ sơ hoàn thuế dành cho tổ chức chi trả thu nhập khi được uỷ quyền QTT cho người lao động cần những gì ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo hướng dẫn tại điểm a Khoản 1 Điều 42 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính thì hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của tổ chức trả thu nhập gồm:

– Văn bản đề nghị xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa theo mẫu số 01/DNXLNT ban hành kèm theo phụ lục I Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính;

– Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp người nộp thuế không trực tiếp thực hiện thủ tục hoàn thuế, trừ trường hợp đại lý thuế nộp hồ sơ hoàn thuế theo hợp đồng đã ký giữa đại lý thuế và người nộp thuế;

– Bảng kê chứng từ nộp thuế theo mẫu số 02-1/HT ban hành kèm theo phụ lục I Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính (áp dụng cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập).

Câu hỏi 15: Đối với cá nhân có thu nhập trong năm ở 2 nơi, 3 tháng đầu ở đơn vị A, 9 tháng sau làm ở đơn vị B. Cá nhân này đã được kê khai và khấu trừ thuế ở cả 2 cơ quan và tổng cả năm không phát sinh số thuế phải nộp thêm hay nộp thừa thì cá nhân đó có phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế theo mẫu 02/KK-TNCN theo thông tư 80/2021/TT-BTC không ạ? Mong tổng cục thuế giải đáp thắc mắc trên, xin cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại tiết d.3 điểm d Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ thì Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên mà không đáp ứng điều kiện được ủy quyền quyết toán theo quy định thì phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.Trường hợp, cá nhân có số thuế thu nhập cá nhân phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống thì không phải quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 16: Trong năm đơn vị có nhiều lao động làm k tròn năm, phát sinh trường hợp trả lương cho những lao động này sau khi họ đã chấm dứt hợp đồng lao động (Ví dụ NLĐ nghỉ từ T3/2021, đến T4/2021 đơn vị trả lương T3/2021. TCT cho hỏi những NLĐ này có đủ điều kiện làm cam kết 08/CK-TNCN không. (Từ tháng 1 đến tháng 3 đơn vị đang tính thuế cho họ theo biểu lũy tiến)

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế. Do đó, trong trường hợp của Công ty, Công ty trả các khoản thu nhập cho người lao động vào thời điểm sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động thì việc Công ty thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trên khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công theo mức thuế suất 10% và Công ty thực hiện tổng hợp thu nhập của cá nhân này khi quyết toán thuế TNCN và kê khai quyết toán đối với phần thu nhập của người lao động này theo quy định.

Câu hỏi 17: Bên em có bạn kế toán có kí hợp đồng lao động toàn thời gian với DN em làm đủ 12 tháng trong năm nhưng ko nộp bhxh bên em lương bên em khoảng 8tr Đồng thời cũng kí hợp đồng lao động toàn thời gian với 1 DN khác ( Admin của 1 nhãn hàng) và nộp bhxh bên này lương bên này cũng 8tr Bạn có 2 con phụ thuộc Sau khi trừ bản thân và người phụ thuộc bạn chưa đến mức nộp thuế vậy hàng tháng em có trích lại 10% khi chị trả thu nhập cho bạn không? Xin cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại tiết c.1.1 điểm c khoản 1 Điều 9 và điểm b Khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính  thì trường hợp bạn là cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều tổ chức trả thu nhập thì các tổ chức trả thu nhập đó thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Tuy nhiên, bạn chỉ được lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại 1 nơi và tính giảm trừ người phụ thuộc tại một nơi mà bạn đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc với cơ quan thuế. 

Câu hỏi 18: Trường hợp 1: Cán bộ làm việc tại đơn vị là 1 chi nhánh trong hệ thống, nhận lương tại Chi nhánh. Trong năm có một số khoản thu nhập được trả từ trên Tổng Công ty mẹ. Đồng thời có thu nhập vãng lai ở một công ty khác không quá 10trđ/tháng, đã khấu trừ tại nguồn đủ 10%. Trường hợp này cán bộ có được ủy quyền cho chi nhánh quyết toán thuế k ? Trường hợp 2: trong năm 2021, cán bộ điều chuyển giữa 2 đơn vị trong cùng hệ thống .Đồng thời có thu nhập vãng lai ở một công ty khác không quá 10trđ/tháng, đã khấu trừ tại nguồn đủ 10% .Trường hợp này cán bộ có đc ủy quyền quyết toán thuế k ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ tiết d.2 điểm d, khoản 6 Điều 8, Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định về trường hợp ủy quyền quyết toán như sau: “Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm; đồng thời có thu nhập văng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.”

Do đó, đối với trường hợp của anh/chị, cá nhân nhận thu nhập từ tiền lương, tiền công từ tổ chức chi trả được ủy quyền quyết toán thuế TNCN nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập vãng lai đã được khấu trừ 10% này.

Câu hỏi 19: Kính gửi: TCT 1>Tôi muốn hỏi thời gian đăng ký giảm trừ người phụ thuộc như thế nào ạ. Ngày 21/03/2022 tôi đăng ký người phụ thuộc cho năm 2021 thì có được chấp nhận không ạ 2> Theo mẫu đăng ký người phụ thuộc (20-ĐK-TH-TCT) theo thông tư 105/2020/TT-BTC thì không có thời gian giảm trừ, vậy để thực hiện tăng hoặc giảm người phụ thuộc, tôi phải làm thế nào ạ? Tôi thực hiện theo mẫu cũ số 02-TH và đã được chấp nhận thì có được tính không ạ? Mong TCT có câu trả lời, trân trọng cảm ơn!

Tổng cục Thuế trả lời:

1. Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc. Riêng đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế, quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế đó.

 Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế.

2. Đối với hồ sơ đăng ký người phụ thuộc

Đối với cá nhân nộp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc trực tiếp tại cơ quan thuế, hồ sơ bao gồm:

+ Bản đăng ký người phụ thuộc theo mẫu số 07/ĐK-NPT-TNCN ban hành kèm theo Phụ lục II Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính.

+ Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc theo hướng dẫn tại điểm g Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.

+ Trường hợp người phụ thuộc do người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng phải lấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã/phường nơi người phụ thuộc cư trú theo mẫu số 07/XN-NPT-TNCN ban hành kèm theo Phụ lục II Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính.

b) Trường hợp cá nhân đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc thông qua tổ chức, cá nhân trả thu nhập thì cá nhân nộp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc theo hướng dẫn nêu trên cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập tổng hợp theo Phụ lục Bảng tổng hợp đăng ký người phụ thuộc cho người giảm trừ gia cảnh mẫu số 07/THĐK-NPT-TNCN ban hành kèm theo Phụ lục II Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính và nộp cho cơ quan thuế theo quy định.

Câu hỏi 20: Mong được giải đáp 2 tình huống như sau: 1. Vì một số lý do Công ty phát sinh trả thu nhập cho NLĐ sau khi NLĐ đã nghỉ. Khoản tiền này có phải cho vào bảng QTT hay không. 2. Tháng 1 đến tháng 3: A vào làm Thực tập, thu nhập 3-5 tr và đã làm cam kết thu nhập trong năm không quá 11tr*12. Tháng 4 đến tháng 12: A chuyển sang kí HĐ chính thức. Vậy QTT cho TH này kê khai như nào ạ. Kê khai lũy tiến từ tháng 1 đến tháng 12 có đúng ko ?

Tổng cục Thuế trả lời:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế. Do đó, trong trường hợp của Công ty, Công ty trả các khoản thu nhập cho người lao động vào thời điểm sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động thì việc Công ty thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trên khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công theo mức thuế suất 10% và Công ty thực hiện quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập này.

2. Căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú phải khấu trừ thuế theo mức 10%.

Do đó, trường hợp người lao động trong năm vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo thuế suất 10% vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, nếu người lao động có ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại Bảng kê 05-1 (khấu trừ thuế TNCN cho toàn bộ thu nhập người lao động nhận được từ Công ty theo biểu thuế lũy tiến từng phần). Nếu người lao động đó không ủy quyền quyết toán cho Công ty, anh/chị kê khai cá nhân đó tại cả hai bảng kê 05-1 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần) và 05-2 (đối với phần thu nhập được khấu trừ theo mức thuế suất 10%).

Câu hỏi 21: Người lao động tại doanh nghiệp khi quyết toán thuế TNCN không phát sinh thừa hay thiếu thuế TNCN phải nộp có phải làm uỷ quyền quyết toán thuế TNCN cho doanh nghiệp không? Cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định của pháp luật thuế TNCN và Luật Quản lý thuế, trường hợp người lao động thuộc diện được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thay thuế TNCN thì cá nhân có thể ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thay không phân biệt có hoặc không phát sinh số thuế phải nộp thêm hoặc phát sinh số thuế nộp thừa.

Câu hỏi 22: Trường tôi có giáo viên làm từ tháng 1 đến tháng 5. Từ tháng 6 giáo viên này chuyển sang trường B. Trường tôi và trường B đều thuộc cùng 1 địa bàn thành phố. Vậy trong TH này trường tôi và trường B có phải trong cùng 1 hệ thống không? Nếu có thì trường tôi có phải kê khai thu nhập từ tháng 1 đến tháng 5 cho giáo viên này không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm d.1 khoản 6 Điều 8  và điểm b khoản 8 Điều 11 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên không thuộc diện được ủy quyền quyết toán mà phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN. Do đó, trường hợp giáo viên điều chuyển công tác trong các trường thuộc hệ thống công lập không thuộc diện được ủy quyền quyết toán. 

Câu hỏi 23: Đơn vị đã khấu trừ 10% thuế TNCN của tiền phụ cấp Hội đồng quản trị từ tháng 1/2022 đến tháng 3/2022. Và những người HĐQT này cũng về hưu trong tháng 3/2022. Vậy Đơn vị xin Thuế chứng từ khấu trừ thuế TNCN viết luôn trong quý 1/2022 này luôn được không và chung tu nay dùng làm quyết toán thuế TNCN cho năm 2022 được hông ạ, Va đơn vị sẽ hông làm chứng từ khấu trừ điện tử nữa ạ, vì sẽ không còn phát sinh trường hợp này nữa ạ. Trân trọng!

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 12, Thông tư 78/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính, việc sử dụng chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tiếp tục thực hiện theo Thông tư số 37/2010/TT-BTC ngày 18/3/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc phát hành, sử dụng, quản lý chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính (và văn bản sửa đổi, bổ sung) và Quyết định số 102/2008/QĐ-BTC ngày 12/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mẫu chứng từ thu thuế thu nhập cá nhân đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2022.

Vì vậy, đơn vị vẫn có thể sử dụng chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân giấy đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2022.

Câu hỏi 24: Trong năm , công ty không phát sinh chi trả thu nhập , vậy công ty có phải lập tờ khai quyết toán thuế TNCN hay không ? Vì khi công ty nhập tờ khai quyết toán thuế TNCN, thì tờ khai yêu cầu nhập thông tin phụ BK01 , nhưng công ty không phát sinh chi trả thu nhập, nên không có người lao động Vậy công ty có thể làm công văn gử cơ quan thuế là công ty không phát sinh cho trả thu nhập , nên không có nghĩa vụ nộo tờ khai quyết toán thuế TNCN được không Trân trọng cám ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ quy định tại d.1 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP, trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.

 Do đó, trường hợp trong năm công ty không phát sinh trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thì công ty không phải thực hiện quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 25: 

1. Chỉ tiêu 13 trong Bảng kê 05-1/ ở tờ khai quyết toán thuế TNCN: là thu nhập của cá nhân tại tổ chức mới trước khi tổng hợp thu nhập điều chuyển của đơn vị cũ bàn giao thu nhập đối với các nhân điều chuyển từ đơn vị cũ sang đơn vị mới đúng ko ạ? 2. Các cá nhân điều chuyển đi trong TCT, đơn vị cũ đã bàn giao thu nhập cho đơn vị mới thì đơn vị cũ có phải kê khai cá nhân đó và không tích ủy quyền ko? E cám ơn ạ

Tổng cục Thuế trả lời:

1. Đối với chỉ tiêu [13] Trong đó TNCT tại tổ chức trước khi điều chuyển (trường hợp có đánh dấu vào chỉ tiêu [04] tại Tờ khai 05/QTT-TNCN) trên Bảng kê 05-1, tổ chức trả thu nhập kê khai các khoản thu nhập chịu thuế tại tổ chức cũ trước khi điều chuyển của người lao động.

2.Căn cứ điểm d.1 khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).

Do đó, theo nguyên tắc tổng hợp thu nhập, khi quyết toán thuế TNCN, tổ chức cũ thực hiện kê khai cá nhân đó tuy nhiên không tích ủy quyền quyết toán thay. 

Câu hỏi 26: Kính gửi tổng cục Thuế hướng dẫn Người nộp Thuế có phát sinh số thuế phải nộp năm 2019, chưa đăng ký giảm trừ gia cảnh thì thời điểm hiện tại đi quyết toán có được đăng ký giảm trừ gia cảnh cho con đẻ và tính giảm trừ gia cảnh cho con đẻ khi quyết toán thuế năm 2019 ko ạ

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo hướng dẫn tại Điều 9 Thông 111 thì: Trường hợp trong năm 2019, con đẻ của bạn đủ điều kiện là người phụ thuộc bạn nhưng bạn chưa đăng ký và tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế 2019; khi bạn thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2019 được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng nếu đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.

Câu hỏi 27: Xin hỏi tờ khai thuế Q1/2021 phát hiện có sai sót nhưng không làm thay đổi số thuế TNCN phải nộp. Vậy sẽ không nộp tờ khai bổ sung của Q1/2021, mà chỉ phải nộp bản giải trình và các giấy tờ liên quan. Xin hỏi Tổng cục thuế là bản giải trình có trên phần phềm HTKK và nộp qua thuedientu được không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Tờ khai thuế Q1/2021 phát hiện có sai sót nhưng không làm thay đổi số thuế TNCN khi khai bổ sung thì NNT chỉ phải nộp Bản giải trình khai bổ sung.

Hiện nay Tổng cục thuế đang nâng cấp ứng dụng để tiếp nhận hồ sơ khai bổ sung. Sau ngày 25/3/2022, Anh/ chị sẽ sử dụng ứng dụng để khai trên phụ lục 01/KHBS của tờ khai Q1/2021

Câu hỏi 28: Phụ lục 05-1/BK-TNCN (cột 17)Số tiền giảm trừ gia cảnh cho bản thân và 1 người phụ thuộc 184.800.000 vẫn báo đỏ dù đã nhập đủ các chỉ tiêu trên 05-3. Đề nghị Tổng cục hướng dẫn sửa

Tổng cục Thuế trả lời:

Đề nghị bạn kiểm tra lại trường hợp này, trên tờ khai không báo lỗi đỏ nhưng trên phụ lục 05-3/bk-tncn có thể có ô cảnh báo bôi màu đỏ , Anh/Chị sửa  và điền đầy đủ và  đúng số liệu trên các ô màu đó phụ lục thì sẽ kết xuất XML được.

Câu hỏi 29: Xin tổng cục Thuế hướng dẫn Trường hơp điều chuyển nơi làm việc của giáo viên trong các trường thuộc hệ thống công lập của cùng 1 huyện, có được gọi là điều động cùng hệ thống để thực hiện ủy quyền quyết toán ko ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm d.1 khoản 6 Điều 8  và điểm b khoản 8 Điều 11 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên không thuộc diện được ủy quyền quyết toán mà phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN. Do đó, trường hợp giáo viên điều chuyển công tác trong các trường thuộc hệ thống công lập không thuộc diện được ủy quyền quyết toán

Câu hỏi 30: Tôi đang công tác tại chi nhánh của 1 ngân hàng TMCP, trong năm 2021 tôi chỉ phát sinh thu nhập tiền lương tiền công tại chi nhánh. Tuy nhiên, kế toán chi nhánh mới báo với tôi là trong năm, tôi có được tặng 1 huy hiệu bằng vàng từ Trụ sơ chính ngân hàng, do huy hiệu đó ko tính thuế nên khi Trụ sở chính ngân hàng xuất chứng từ khấu trừ thuế thì khấu trừ ko đủ 10%. Kế toán có giải thích là trong trường hợp này tôi phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Nhưng tôi thấy TSC và chi nhánh bản chất vẫn là cùng 1 ngân hàng TMCP, nên tôi muốn hỏi rằng: 1. Chi nhánh có được quyết toán thuế luôn phần thu nhập và thuế mà trụ sở chính đã tạm trích hay ko. 2. Trong trường hợp nếu tôi đã lỡ UQTT, số thuế phải nộp thêm tôi đã nộp đủ (tính cả phần thu nhập phát sinh thêm từ tsc), nếu thuế kiểm tra thấy tôi phải tự đi qt, thì khi đi nộp tờ khai lại tôi có bị phạt gì ko

Tổng cục Thuế trả lời:

1. Theo quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên mà không đáp ứng điều kiện được ủy quyền quyết toán theo quy định thì phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo. Đối với trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Theo đó, nếu phần thu nhập chịu thuế nhận được từ trụ sở chính của của anh/chị bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% mà anh/chị không có yêu cầu thì anh/chị có thể ủy quyền quyết toán cho chi nhánh và không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ trụ sở chính được khấu trừ theo tỷ lệ 10%. Trường hợp thu nhập chịu thuế nhận được từ trụ sở chính của anh/chị bình quân tháng trong năm trên 10 triệu đồng, anh/chịu thuộc diện phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN.

Trường hợp trụ sở chính chưa thực hiện khấu trừ thuế 10% thì anh chị không thuộc diện được ủy quyền quyết toán thuế cho chi nhánh.

2. Cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu nhập, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: “Công ty … đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Câu hỏi 31: Năm 2021, Công ty thực hiện chi trả thù lao cho các TV HĐQT của cty từ tháng 01 đến tháng 2021. Tuy nhiên bắt đầu từ tháng 04/2021 do Công ty gặp khó khăn nên các TV HĐQT tạm thời k nhận cho đến khi Công ty vượt qua khó khăn. Nhưng khi QTT hàng tháng thì Công ty vẫn ke khai các TV HĐQT. Đến 12/2021 các TV HĐQT quyết định k nhận phần thù lao mà công ty đang nợ (04 -12/2021). Cơ quan thuế cho mình hỏi: 1. Khi thực hiện QTT cuối năm thi Công ty chỉ QTT số thuế cho các TV HĐQT đến hết tháng 03/2021 (vì chỉ phát sinh thù lao thực tế đên 03/2021) đúng không ạ? 2. Công ty mình có cần điều chỉnh lại QTT hàng tháng từ tháng 04/2021 không ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

1.  Căn cứ khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.

Do đó, công ty thực hiện quyết toán thuế TNCN trên thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế thực tế nhận được trong kỳ tính thuế.

2. Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019, trường hợp hồ sơ khai thuế tháng của công ty đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Bên cạnh đó, căn cứ khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, trường hợp công ty khai bổ sung không làm thay đổi nghĩa vụ thuế thì chỉ phải nộp Bản giải trình bổ sung và các tài liệu có liên quan, không phải nộp tờ khai bổ sung.  

Như vậy, công ty có thể thực hiện khai bổ sung và điều chỉnh lại tờ khai tháng/quý trong năm và tổng hợp số liệu khai bổ sung vào hồ sơ quyết toán thuế.

Câu hỏi 32: Cho em hỏi, NLĐ nhân tiền hỗ trợ covid từ DN theo NQ 68 (DN được giảm trừ 0,5% tiền đóng quỹ TNLĐ… để hỗ trợ cho NLĐ ) thì có phải tính thuế tncn không ạ? Trường hợp khác là công ty tự có chính sách hỗ trợ covid cho NLĐ thì thu nhập này có phải tính thuế tncn không ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo điều 1 và Điều 2 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và theo quy định tại khoản 2, Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 của Quốc hội) thì khoản tiền mà người sử dụng lao dộng hỗ trợ cho người lao động để phòng chống dịch Covid-19 (lấy từ việc giảm đóng vào Quỹ BH TNLĐ, bệnh nghề nghiệp) là khoản trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ.

 Theo đó, trường hợp người sử dụng lao động hỗ trợ toàn bộ số tiền có được từ việc giảm đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động phòng, chống Covid-19 theo quy định tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ (thực hiện Nghị Quyết 68) quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 thì khoản tiền hỗ trợ này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Câu hỏi 33: Qđ mới có nhắc đến cụm từ NLĐ làm việc tại thời điểm tổ chức trả thu nhập thực hiện việc quyết toán,vậy NLĐ nghỉ từ Tháng 1, cty làm quyết toán trong tháng 3 thì NLĐ này có đc ủy quyền k ạ?(gs bỏ qua các đk khác như HĐLĐ,TN vãng lai…)

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại tiết d.2, điểm d, khoản 6, điều 8 nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch. Theo đó, cá nhân không làm việc tại tổ chức vào thời điểm QTT, do đó, cá nhân không đáp ứng điều kiện được ủy quyền QTT và phải trực tiếp quyết toán thuế.

Câu hỏi 34: Kính gửi Quý Cục thuế, Theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 80/2021/TT-BTC, Công ty chúng tôi đã nộp tờ khai thuế TNCN tháng 05/KK-TNCN kèm phụ lục phân bổ thuế 05/PBT tới Cục thuế tỉnh Bắc Ninh – Cục thuế quản lý của Trụ sở chính. Công ty chúng tôi có 2 chi nhánh do Cục thuế TP HCM và Cục thuế HN quản lý, vậy tiền thuế TNCN sẽ được phân bổ chuyển về từng cơ quan thuế hay Công ty chỉ cần chuyển tiền tới Cục thuế của Trụ sở chính và Cục thuế của Trụ sở chính sẽ thực hiện việc chuyển tiền tới Cục thuế của chi nhánh theo số liệu trên phụ lục phân bổ 05/PBT ? Chúng tôi xin chân thành cám ơn!

Tổng cục Thuế trả lời:

Doanh nghiệp chi trả tập trung tại trụ sở chính (tỉnh Bắc Ninh) có chi nhánh tại tỉnh khác với nơi đóng trụ sở chính (Hồ Chí Minh, Hà Nội) thì DN khấu trừ tập trung tại trụ sở chính và kê khai thuế, lập bảng phân bổ cho từng tỉnh mẫu số 05-1/PBT-TNCN và nộp hồ sơ khai thuế TNCN cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp (Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh), không phải nộp hồ sơ khai thuế TNCN cho cơ quan thuế nơi có chi nhánh.

Tuy nhiên, doanh nghiệp phải lập Giấy nộp tiền theo từng tỉnh để nộp tiền thuế TNCN cho từng tỉnh theo thông tin đã kê khai trên bảng phân bổ theo quy định tại Điều 12, Điều 19 Thông tư số 80/2021/TT-BTC. 

Câu hỏi 35: Kính chào Quý cơ quan. Hiện nay đơn vị đang thực hiện quyết toán thuế tncn tuy nhiên trong năm đơn vị có thực hiện thanh toán tiền bản quyền và nộp thuế thay người bán. Hiện nay đơn vị chúng tôi đang chưa biết là sẽ qtoan phần thuế đó vào mẫu nào trên HTKK. Rất mong nhận được sự hướng dẫn của Quý cơ quan để đơn vị thực hiện đúng quy định pháp luật. Xin cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, đối tượng quyết toán thuế TNCN bao gồm: tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương tiền công và cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Do đó, đơn vị không thực hiện quyết toán thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bản quyền. Đơn vị thực hiện khấu trừ thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bản quyền và kê khai thuế TNCN theo mẫu số: 06/TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Câu hỏi 36: Công ty có trụ sở chính ở Hà Nội, ủy quyền cho chi nhánh ở Nam Định (CN có con dấu riêng, kê khai riêng, hạch toán phụ thuộc) ký hợp đồng lao động, chi trả lương, vậy khi QTT sử dụng mst của công ty hay chi nhánh? nộp tờ khai ở cqt nào?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế và quyết toán thuế TNCN thay cho cá nhân có ủy quyền. Về nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN, căn cứ Khoản 8 Điều 11 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, đối với tổ chức trả thu nhập nộp hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý tổ chức trả thu nhập đó.

Do đó, công ty thực hiện quyết toán thuế TNCN thay cho cá nhân có ủy quyền ký hợp đồng lao động với công ty và nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN tại cơ quan Thuế trực tiếp quản lý theo quy định. 

Câu hỏi 37: Nhập thiếu thông tin khấu trừ BH xã hội, BH thất nghiệp nên số tiền thuế quyết toán k đúng và lỡ đính kèm tờ khai. bây giờ em muốn đính kèm lại thì hệ thống k cho. Xin hỏi em phải xử lý thế nào ạ.

Tổng cục Thuế trả lời:

Hiện nay, Tổng cục Thuế đang thực hiện nâng cấp ứng dụng eTax để đáp ứng nhận tờ khai bổ sung. Trường hợp phát hiện tờ khai quyết toán (chính thức) đã nộp thành công có sai sót thì dự kiến sau ngày 25/3/2022 Doanh nghiệp sử dụng ứng dụng để nộp tờ khai bổ sung.

Câu hỏi 38: Công ty tôi mới đi vào hoạt động T11/2021, NLĐ hưởng lương 1 tháng tại Công ty, các tháng trước hưởng lương nơi khác. Vậy xin hỏi NLĐ có được uỷ quyền quyết toán không và thời gian giảm trừ gia cảnh là mấy tháng?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại tiết d.2, điểm d, khoản 6, điều 8 nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch; đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.  Theo đó, đối với cá nhân có hai nguồn thu nhập trở lên trong năm, trừ trường hợp cá nhân có thu nhập vãng lai ở nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% thì có thể ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức, các trường hợp khác mà cá nhân có hai nguồn thu nhập trở lên phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế.

Căn cứ tiết c.1, điểm c, khoản 1 ,  Điều  9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi vả trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế theo quy định. Theo đó, cá nhân được tính giảm trừ gia cảnh đủ 12 tháng khi thực hiện QTT theo quy định.

Câu hỏi 39: Em xin được hỏi 2 câu hỏi ạ: 1. Đối với tờ khai quyết toán thuế TNCN ở chỉ tiêu số 32 của tờ khai không chỉnh được, vậy các trường hợp điều chuyển trong cùng hệ thống thì sẽ quyết toán như nào ạ? 2. Tờ khai quyết toán thuế TNCN đã được ghi thành công và kết xuất excel dược nhưng không kết xuất XML để nộp được, vậy doanh nghiệp sẽ nộp báo cáo theo cách thức nào ạ? Em xin cảm ơn ạ!

Tổng cục Thuế trả lời:

1. Ứng dụng xây dựng trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các phụ lục lên tờ khai hoặc đối chiếu các phụ lục có dữ liệu liên quan với nhau, vì vậy nếu có số liệu ở phụ lục thì NNT phải khai phụ lục trước. Đối với tờ khai quyết toán thuế TNCN ở chỉ tiêu số 32 của tờ khai không chỉnh được thì Anh/Chị khai đúng và đủ trên các phụ lục 05-1/BK-TNCN, 05-2/BK-TNCN, 05-3/BK-TNCN thì dữ liệu sẽ được tổng hợp lên chỉ tiêu số 32 trên tờ khai 03/QTT-TNCN

2.Trường hợp này Tờ khai quyết toán thuế TNCN đã được ghi thành công và kết xuất excel dược nhưng không kết xuất XML để nộp được thì đề nghị Anh/Chị kiểm tra sửa hết dữ liệu được cảnh báo đỏ trên các phụ lục 05-1/BK-TNCN, 05-2/BK-TNCN, 05-3/BK-TNCN thì sẽ kết xuất được XML

Câu hỏi 40: Năm 2020, cá nhân đã tự quyết toán thuế TNCN. Sau quyết toán thuế 2020. cá nhân phát sinh số thuế nộp thừa bù trừ vào kỳ sau. Năm 2021, khi cá nhân tự quyết toán thuế TNCN, số thuế nộp thừa của năm 2020 được bù trừ vào năm 2021 sẽ được điền trên chỉ tiêu nào của Tờ khai 02/QTT-TNCN

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo hướng dẫn tại Điều 25 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính thì người nộp thuế có khoản nộp thừa theo quy định tại khoản 1 ĐIều 60 Luật Quản lý thuế thì sẽ được xử lý bù trừ với khoản nợ, khoản thu phát sinh của người nộp thuế có cùng 1 nội dung kinh tế (tiểu mục). Theo đó, trường hợp bạn thực hiện quyết toán thuế TNCN kỳ tính thuế 2020 có phát sinh số thuế nộp thừa và lựa chọn bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau thì khi thực hiện quyết toán thuế TNCN kỳ tính thuế 2021 có phát sinh số thuế phải nộp thêm thì hệ thống cơ quan thuế sẽ tự động bù trừ với số thuế nộp thừa cùng tiểu mục (nếu có), bạn không cần điền phải thông tin số thuế nộp thừa trên tờ khai quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 41: 1. Trường hợp NLĐ chấm dứt HĐLĐ ngày 01/03/2021. Ngày 09/03/2021, cty trả lương của tháng 02/2021 cho NLĐ. Vậy phần thu nhập này cty tính biễu thuế lũy tiến và tính GTBT, GTGC bình thường có đúng không? 2. Trường hợp NLĐ chấm dứt HĐLĐ ngày 19/08/2021. Ngày 09/10/2021, cty trả 1 phần thu nhập từ tiền công, tiền lương nhỏ hơn 2tr. Cty không khấu trừ thuế TNCN 10%. Vậy khi QTT năm 2021, phần thu nhập trả ngày 09/10 cty kê lên mẫu 05-02 hay cộng chung vào mẫu 05-01. (NLĐ không được ủy quyền) Kính mong cơ quan Thuế hướng dẫn giúp. Xin cảm ơn.

Tổng cục Thuế trả lời:

1.Theo quy định, NLĐ chấm dứt HĐLĐ ngày 01/03/2021. Ngày 09/03/2021, cty trả lương của tháng 02/2021 cho NLĐ thì phần thu nhập này sẽ được kê khai trên bảng kê 05-2/BK-QTT-TNCN

2.Theo quy định tại điểm d, khoản 6, điều 8 nghị định 126/2020/NĐ-CP thì  tổ chức trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp NLĐ chấm dứt HĐLĐ ngày 19/08/2021. Ngày 09/10/2021, cty trả 1 phần thu nhập từ tiền công, tiền lương nhỏ hơn 2tr. Cty không khấu trừ thuế TNCN 10%. Vậy khi QTT năm 2021,  người lao động có hợp đồng dài hạn và nghỉ việc và đã được công ty của bạn trả thu nhập thì khi tổ chức của bạn khai quyết toán thuế TNCN thì vẫn kê khai thu nhập đã chi trả và số thuế đã khấu trừ (nếu có) của cá nhân đó trên bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN và không tích vào phần cá nhân ủy quyền quyết toán.

Câu hỏi 42: Một cá nhân có ký hợp đồng trên 3 tháng tại 1 công ty có thu nhập chưa đến 11 triệu, và có thu nhâp tại công ty khác dưới 4 triệu vậy có được giảm trừ bản thân tại công ty thứ nhất 11 triệu và công ty thứ 2 đăng ký con là người phụ thuộc được giảm trừ 4.4 triệu k?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ tiết c.1, điểm c, khoản 1 ,  Điều  9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.

Căn cứ tiết c.2, điểm c, khoản ,  Điều  9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính,  để được tính giảm trừ cho người phụ thuộc thì người nộp thuế phải thực hiện đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc theo quy định và mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế.

Theo đó, cá nhân được đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi trong năm tính thuế và được tính giảm trừ gia cảnh đối với mỗi NPT vào một NNT trong năm tính thuế kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi thực hiện QTT và đăng ký NPT theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Câu hỏi 43: Kính gửi Tổng cục thuế, Trong năm 2021, Văn phòng Quốc hội có rất nhiều trường hợp cán bộ, công chức điều chuyển công tác trong cùng hệ thống chính trị (các cơ quan nhà nước) do được bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ mới, bổ nhiệm các chức danh nên nhiều cán bộ, công chức có hai nguồn thu nhập trong năm 2021. (Ví dụ, chuyển từ UBND thành phố Hà Nội sang Quốc hội, Chuyển từ Bộ Quốc phòng sang Quốc hội…) Như vậy, trong những trường hợp này, các cán bộ, đại biểu Quốc hội có được uỷ quyền cho Văn phòng Quốc hội quyết toán thuế năm 2021 không? Rất mong nhận được sự phúc đáp của Quý đơn vị. Trân trọng cảm ơn./.

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm d.1 Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP:

“ Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).”

Như vậy, trường hợp cán bộ, công chức điều chuyển công tác trong cùng hệ thống chính trị (các cơ quan nhà nước) do được bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ mới, bổ nhiệm các chức danh nên nhiều cán bộ, công chức có hai nguồn thu nhập trong năm 2021 (Ví dụ, chuyển từ UBND thành phố Hà Nội sang Quốc hội, Chuyển từ Bộ Quốc phòng sang Quốc hội…) không thuộc trường hợp được ủy quyền quyết toán.

Cơ quan thuế đã hỗ trợ quyết toán thuế TNCN trực tuyến (qua website: thuedientu.gdt.gov.vn, phần Cá nhân). Để khai, nộp hồ sơ quyết toán thuế điện tử, cá nhân thực hiện đăng ký tài khoản điện tử (nếu chưa có tài khoản khai thuế điện tử) tại Cổng dịch vụ Công điện tử của Chính phủ để thực hiện khai thuế điện tử. Về nộp thuế điện tử, người nộp thuế là cá nhân cũng được hỗ trợ nộp thuế điện tử qua ứng dụng Thuế điện tử E-tax Mobile trên thiết bị di động.

Người nộp thuế cần hỗ trợ cụ thể mời liên hệ với Tổng cục Thuế (Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Hộ kinh doanh, cá nhân) theo số điện thoại: 02439.712.555, số máy lẻ: 4161. 

Câu hỏi 41: NLĐ tại công ty trong thời gian thử việc sẽ tính thuế toàn phần 10%, sau đó mới ký HĐLĐ và bắt đầu tính thuế lũy tiến. Ngoài ra một số NLĐ có nhận thu nhập sau khi chấm dứt HĐ cũng tính thuế 10%. Các trường hợp vừa có thu nhập lũy tiến và thu nhập toàn phần như vậy, công ty có nên gộp lại toàn bộ vào Phụ lục BK01 và xuất 1 chứng từ không hay bắt buộc phải tách rõ thu nhập trên hai Phụ lục 01 và 02?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định, cuối năm khi thực hiện quyết toán thuế TNCN chính là việc tổ chức hay cá nhân tổng hợp lại các nguồn thu nhập trong năm để tính tổng thu nhập chịu thuế và xác định lại số thuế TNCN phải nộp hay là khấu trừ hoặc hoàn thuế (nếu có). Do đó, để khai quyết toán thuế TNCN cho cá nhân được đầy đủ trong trường hợp vừa có thu nhập lũy tiền và từng phần trong 1 tổ chức và ủy quyền cho tổ chức đó trong năm thì tổ chức có thể khai toàn bộ thu nhập của cá nhân trên một bảng kê 05-1/BK-TNCN.

Câu hỏi 44: Với các cán bộ trong đơn vị có thực hiện tự hoàn thuế, phần thuế TNCN đã khấu trừ trong năm. Bây giờ khi làm quyết toán thuế TNCN tôi có phải tích vào ủy quyền quyết toán thuế thay ko?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cụ thể như sau:

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch; đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

– Cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu nhập, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: “Công ty … đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập sử dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử thì in chuyển đổi từ chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử gốc và ghi nội dung nêu trên vào bản in chuyển đổi để cung cấp cho người nộp thuế.

Khi thực hiện quyết toán thuế TNCN, tổ chức trả thu nhập tổng hợp thu nhập của người lao động trong năm (bao gồm cả trường hợp ủy quyền quyết toán và không ủy quyền quyết toán).

Câu hỏi 46: Kính gửi Tổng cục Phụ lục Tờ khai 05-1/BK- TNCN tại chỉ tiêu (17) Tổng số tiền giảm trừ gia cảnh, số tiền lớn hơn 132tr khi nhập sẽ bị lỗi. Xin được hướng dẫn trường hợp trên

Tổng cục Thuế trả lời:

Phụ lục 05-1/BK-TNCN (cột 17- Tổng số tiền giảm trừ gia cảnh)  số tiền lớn hơn 132tr có nghĩa là Anh/chị đã giảm trừ cho người phụ thuộc. Vì ứng dụng sẽ kiểm tra ràng buộc tại các phụ lục, do đó Anh/Chị phải khai đầy đủ dữ liệu trên BK05-3 (Bằng kê chi tiết người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh) để khớp với 05-1/BK-TNCN (Bảng kê chi tiết cá nhân thuộc diện tính thuế theo bảng lũy tiến từng phần).

Câu hỏi 47: Người lao động có ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, làm việc từ ngày 1/1/2021 đến hiện tại. Tháng 5/2020 người lao động đăng ký NPT là con sinh năm 2019. Vậy khi quyết toán thuế TNCN năm 2021, người lao động được tính giảm trừ gia cảnh bao nhiêu tháng? Trường hợp đủ điều kiện ủy quyền quyết toán TNCN thì được tính bao nhiêu tháng? Xin cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2018 của Bộ Tài chính thì  người lao động đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc sẽ được tạm tính giảm trừ gia cảnh trong năm kể từ khi đăng ký.

Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì đượcc tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.

Người nộp thuế chỉ phải đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh cho mỗi một người phụ thuộc một lần trong suốt thời gian được tính giảm trừ gia cảnh . Trường hợp người nộp thuế thay đổi nơi làm việc, nơi kinh doanh thì thực hiện đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc như trường hợp đăng ký người phụ thuộc lần đầu theo hướng dẫn tại tiết h.2.1.1.1 điểm h Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

Theo đó, trường hợp bạn đã đăng ký giảm trừ gia cảnh từ tháng 5/2020 thông qua tổ chức trả thu nhập và không thay đổi nơi làm việc thì khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân kỳ tính thuế năm 2021 bạn sẽ được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2021.

Câu hỏi 48: trường hợp NLĐ có thu nhập chịu thuế từ 2 tổ chức có quan hệ anh – em (cùng mẹ), ví dụ giữa các chi nhánh, giữa các công ty con trong cùng tập đoàn, trong đó, NLĐ ký HĐLĐ với tổ chức A và thu nhập tại tổ chức này là thu nhập trích thuế lũy tiến, NLĐ ký HĐ dịch vụ với tổ chức B và thu nhập tại đơn vị này là thu nhập trích thuế vãng lai (10%). Như vậy NLĐ này có đủ điều kiện để ủy quyền cho tổ chức A quyết toán thuế hay không

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại tiết d.2, điểm d, khoản 6, điều 8 nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch; đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.  

Theo đó, trường hợp NLĐ có thu nhập từ hai nơi trở lên mà thu nhập vãng lai ở nơi khác (tổ chức B) bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% thì có thể ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức A.

Câu hỏi 49: Cá nhân có thu nhập 2 nơi, 1 nơi ky HĐLĐ chính thức khấu trừ theo luỹ tiến từng phần, nơi thứ 2 đã khấu trừ 10% trên TN. Vậy tôi có phải thuộc diện QT thuế TNCN hay không ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên mà không đáp ứng điều kiện được ủy quyền quyết toán theo quy định thì phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.

Đối với trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này. Theo đó, nếu thu nhập vãng lai ở nơi thứ 2 của anh/chị bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% mà anh/chị không có yêu cầu thì anh/chị có thể ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập mà anh/chị ký hợp đồng lao động chính thức và không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập tại nơi thứ 2 được khấu trừ theo tỷ lệ 10%.

Câu hỏi 50: Tôi muốn hỏi thủ tục, mẫu biểu để cấp hay chuyển đổi mã số thuế cho người đã có mã số thuế người phụ thuộc như thế nào ạ? (bên công ty tôi có người lao động từng là người phụ thuộc được cấp mã số thuế người phụ thuộc, giờ họ làm tại công ty tôi làm nhưng tôi xin câp mã số thuế nộp thuế cho họ k dc thì phải làm như thế nào ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Trường hợp này, Công ty sử dụng mã số thuế người phụ thuộc đã được cấp để khai thuế cho cá nhân đó. Khi có nghĩa vụ thuế cá nhân đó đến thì Cán bộ Thuế sẽ tự động chuyển mã số thuế người phụ thuộc thành mã số thuế nộp thuế.

Câu hỏi 51: Trong thời gian dịch vừa qua, đơn vị tôi có phát sinh một số khoản chi liên quan người lao động (NLĐ) như sau: – Thuê đơn vị bên ngoài xét nghiệm nhanh và PCR SARS CoV-2 cho NLĐ (có tên và thông tin người được xét nghiệm) – Mua kit xét nghiệm nhanh và phát cho NLĐ tự xét nghiệm (NLĐ có ký nhận) – Thuê khách sạn và chi phí liên quan chữa bệnh cho người nhiễm SARS CoV-2 (có tên và thông tin người sử dụng dịch vụ) Vậy các khoản trên có tính vào thuế TNCN cho NLĐ khi quyết toán thuế TNCN không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Về vấn đề này, Bộ Tài Chính (Tổng cục Thuế) đã có công văn 4110/TCT-DNNCN ngày 27/10/202, theo đó, trường hợp các khoản phi chí cách ly y tế do dịch covid-19, chi phí xét nghiệm Covid-19 xét nghiệm và các chi phí phí ăn, ở của người lao động ở tại doanh nghiệp hoạt động theo phương án “3 tại chỗ” thì các khoản chi phí này được tính vào chi phí được trừ khi thuế thu nhập doanh nghiệp và không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động nếu phản ánh thực tế phát sinh và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo đúng quy định của pháp luật.

Câu hỏi 52: Trong năm, thu nhập của ông A tại đơn vị được tính thuế luỹ tiến (viên chức), tuy nhiên ông A có thu nhập từ việc làm đề tài nghiên cứu của sở, do đơn vị chi hộ và đã được khấu trừ thuế 10% tại nguồn, đơn vị đã kê khai thuế cho phần thu nhập này. Vậy khi lên tờ khai quyết toán, thu nhập từ đề tài nghiên cứu của ông A được đưa vào bảng nào trên tờ khai quyết toán thuế TNCN.

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ tiết d.3 điểm d, khoản 6 Điều 6, Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Câu hỏi 54: 1. Cty đơn phương chấm dứt hđ không xác định thời hạn (hđ vô thời hạn), tiền đền bù cho NLĐ có thuộc thu nhập chịu thuế không ạ ? Nếu cty đã trích thuế thì khi cá nhân quyết toán TNCN có được hoàn không ạ ? Tiền phép trả cho NLĐ có thuộc thu nhập chịu thuế không ạ ? 2. Trợ cấp điện thoại ghi trong hợp đồng lđ có thuộc thu nhập chịu thuế không ạ ?

Tổng cục Thuế trả lời:

1.Cty đơn phương chấm dứt hđ không xác định thời hạn (hđ vô thời hạn), tiền đền bù cho NLĐ có thuộc thu nhập chịu thuế không ạ ? Nếu cty đã trích thuế thì khi cá nhân quyết toán TNCN có được hoàn không ạ ? Tiền phép trả cho NLĐ có thuộc thu nhập chịu thuế không ạ ?

-Theo quy định Khoản 2, Điều 2 Thông tư 111/2013-BTC thì: Các khoản trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm không tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của Người lao động để tính thuế TNCN nếu các khoản trợ cấp trên được chi trả theo đúng quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.

– Trong trường hợp cá nhân đến khi thực hiện quyết toán thuế mà phát sinh số thuế nộp thừa và đề nghị hoàn thuế TNCN sẽ đề hoàn thuế TNCN.

– Theo quy định của Bộ Luật Lao động thì nếu người lao động chưa nghỉ phép hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ phép hàng năm được chi trả phép cho những ngày chưa nghỉ đó thì theo Luật thuế TNCN khoản tiền này có tính vào Thu nhập chịu thuế.

2.Trợ cấp điện thoại ghi trong hợp đồng lđ có thuộc thu nhập chịu thuế không ạ ?

Theo quy định, phần khoán chi điện thoại cao hơn mức quy định của Nhà nước thì tính vào Thu nhập chịu thuế.

Câu hỏi 55: Kính gửi Cục Thuế, Kính mong Cục thuế hướng dẫn kê giúp tôi kê khai thuế TNCN trong trường hợp như sau: – Chị H làm việc từ tháng 01-06/2021 tại công ty A. Sau đó được điều chuyển từ tháng 07/21 làm việc tại công ty B và hiện tại vẫn đang làm việc. – Chị H ủy quyền cho công ty B quyết toán thuế TNCN 2021 Vậy cho tôi hỏi: Công ty A có phải kê khai quyết toán thuế cho chị H trong thời gian làm việc từ tháng 01-06/2021 không? Nếu có thì sẽ kê khai trên tờ khai 05/QTT TNCN như thế nào?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, trường hợp chị H là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới và tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế TNCN theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và tổ chức trả thu nhập mới thu lại chứng từ khấu trừ thuế TNCN do tổ chức trả thu nhập cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).

Trường hợp chị H là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới nhưng tổ chức cũ và tổ chức mới không cùng một hệ thống thì cá nhân người lao động thuộc diện phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 56: Từ năm 2015 đến nay, tôi có nhiều nguồn thu nhập trong năm, thuộc diện tự quyết toán thuế TNCN. Tuy nhiên, tôi chưa thực hiện quyết toán. Tôi có 03 người phụ thuộc là cha, mẹ và con nhưng tôi chưa từng đăng ký với cơ quan thuế. Vậy bây giờ tôi đi quyết toán thuế có được đăng ký 03 người phụ thuộc của mình không và có được tính giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc từ năm 2015 đến nay không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ tiết c.2, điểm c, khoản ,  Điều  9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính,  để được tính giảm trừ cho người phụ thuộc thì người nộp thuế phải thực hiện đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc theo quy định. Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc. Riêng đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế, quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế đó.

Theo đó, trường hợp cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế có nhiều  nguồn thu nhập trong năm từ năm 2015, chưa tự quyết toán thuế TNCN từ năm 2015 và chưa từng đăng ký NPT gồm cha, mẹ và con, thì cá nhân được tính giảm trừ gia cảnh đối với NPT kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi thực hiện QTT và đăng ký NPT theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Câu hỏi 57: Trên bảng kê 05-3BK có chỉ tiêu “loại giấy tờ của NPT” (CMND/CCCD/Giấy khai sinh/Hộ chiếu/khác). Đối với NPT là con, đăng ky theo số định danh thì sẽ chọn loại giấy tờ là gì (số CCCD hay số giấy khai sinh hay loại khác)

Tổng cục Thuế trả lời:

Trên bảng kê 05-3BK có chỉ tiêu “loại giấy tờ của NPT” (CMND/CCCD/Giấy khai sinh/Hộ chiếu/khác). Trường hợp đăng ký người phụ thuộc là con theo số ddienhj danh thì bạn chọn loại giấy tờ là “khác”.

Câu hỏi 58: Đối với trường hợp cá nhân phải tự QTT TNCN, nếu cá nhân đó tự xác định được nếu QTT TNCN năm 2021 thì cá nhân nộp thừa thuế hoặc không phát sinh thêm thuế phải nộp nên cá nhân đó không muốn thực hiện QTT TNCN thì có được không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại tiết d.3 điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định thì cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hai nơi trở lên mà không đáp ứng điều kiện được ủy quyền quyết toán theo quy định thì phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo.

Trường hợp, cá nhân không phát sinh số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế thu nhập cá nhân phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống hoặc có số thuế thu nhập cá nhân phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo thì không phải quyết toán thuế TNCN.

Câu hỏi 59: Tổng cục thuế cho em hỏi: Tháng 01.2021 cty đã nộp 1 khoản tiền thuế TNCN vào ngân sách và hiện tại đang treo sô tiền thuế đó trên hệ thống do trong năm 2021 DN ko phát sinh khấu trừ thuế trên tờ khai khấu trừ thuế TNCN hàng tháng, Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại DN phát hiện ra có tháng 4,5 DN kê khai thiếu TNCT và sau khi tính toán lại thì tháng 4,5 có phát sinh khấu trừ thuế. SỐ tiền phát sinh này DN được bù trừ với số tiền thuế DN nộp thừa đang treo trên hệ thống thì DN có phải nộp tờ khai bổ sung cho tháng 4,5 không? Và DN ko phải nộp tiền thuế bổ sung như trên thì có bị tính chậm nộp khi nộp lại tờ khai bổ sung tháng 4,5 không? DÙ tờ khai bổ sung tháng 04,05 phát sinh khấu trừ thuế nhưng QTT TNCN năm 2021 của DN phát sinh thuế ít hơn số thuế khấu trừ tháng 04,05

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định thì trường hợp Doanh nghiệp của bạn sau khi tính toán lại thì tháng 4 và tháng 5 có phát sinh khấu trừ thuế TNCN thì Doanh nghiệp của bạn phải khai bổ sung tờ khai thuế TNCN tháng 4 và tháng 5, đồng thời tổng hợp số liệu đã khai bổ sung tháng 4 và tháng 5 vào hồ sơ khai quyết toán thuế năm.

Theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 21 và Điều 25 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính thì trường hợp Doanh nghiệp có số thuế nộp thừa vào tháng 1.2021 và khai bổ sung tháng 4.2021 và tháng 5.2021 có phát sinh số thuế TNCN phải nộp, hệ thống của cơ quan thuế sẽ tự động bù trừ số thuế nộp thừa với số thuế phát sinh phải nộp trên cùng 1 nội dung kinh tế (tiểu mục). Trường hợp, sau khi đã bù trừ theo quy định của pháp luật mà Công ty vẫn còn thừa tiền thuế thì Doanh nghiệp không bị tính tiền chậm nộp.

Câu hỏi 60: Xin TCT trả lời giúp. Cá nhân thuộc diện phải nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN trực tiếp với cơ quan thuế (bao gồm cá nhân có 2 nguồn thu nhập, người nước ngoài khi về nước, cá nhân nước ngoài thuộc diện quyết toán vắt năm), tuy nhiên không phát sinh số thuế phải nộp thì có bắt buộc phải nộp tờ khai quyết toán thuế không? Trường hợp phải nộp nhưng cá nhân nộp muộn, tuy nhiên không phát sinh số thuế phải nộp thì có bị phạt hành chính về nộp muộn tờ khai không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tổng cục Thuế trả lời:

* Căn cứ tiết d.3 điểm d, khoản 6 Điều 6, Nghị định 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công không phải trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN trong các trường hợp sau đây:

– Cá nhân có số thuế thu nhập cá nhân phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống. Cá nhân được miễn thuế trong trường hợp này tự xác định số tiền thuế được miễn, không bắt buộc phải nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân và không phải nộp hồ sơ miễn thuế.

– Cá nhân có số thuế thu nhập cá nhân phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo;

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này;

– Cá nhân được người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm mà người sử dụng lao động hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đã khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm tương ứng với phần người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động thì người lao động không phải quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập này.

* Trường hợp NNT thuộc diện phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN nhưng nộp muộn, nộp quá thời hạn hồ sơ quyết toán thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.  

Câu hỏi 61: Công ty tôi có thuê kho xưởng cả 1 nhân viên trong công ty, nhân viên đó ủy quyền cho chúng tôi quyết toán thuế TNCN, vậy khi quyết toán thuế TNCN cho cá nhân đó, công ty có phải cộng thêm khoản tiền cá nhân nhận được từ việc cho công ty thuê xưởng hay không?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định hiện hành về luật thuế TNCN, thu nhập từ cho thuê kho xưởng là thu nhập của cá nhân từ hoạt động kinh doanh, do đó, cá nhân không phải thực hiện quyết toán thuế đối với khoản thu nhập này. Do đó, trong trường hợp này, công ty chỉ thực hiện quyết toán thuế TNCN về tiền lương, tiền công cho cá nhân ủy quyền QTT. 

Câu hỏi 62: E xin hỏi tỏi tư vấn, tờ khai thuế tncn quyết toán năm sẽ có giá trị tăng – giảm so với tờ khai thuế tncn 4 quý trong năm, mà không phát sinh số thuế phải nộp, thì có phải bổ sung tờ khai các quý để tổng bằng tờ khai quyết toán năm không ạ, e cảm ơn

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại điểm d Khoản 6 Nghị Định số 126/2020/NĐ-CP thì trường hợp khai bổ sung không làm thay đổi nghĩa vụ thuế thì chỉ phải nộp Bản giải trình khai bổ sung và các tài liệu có liên quan, không phải nộp tờ khai bổ sung

Câu hỏi 63: Công ty có làm kê khai bổ sung Q4.2021 nhưng nộp thì báo lỗi như sau: “Có lỗi trong quá trình xử lý tờ khai. Tờ khai phát sinh các lỗi sau:null -)”. Vậy làm sao để nộp lại tờ Khai thuế TNCN đã kê trong năm 2021 ạ

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định 126 năm 2020 của Chính Phủ thì trường hợp tờ khai thuế TNCN tháng/quý của tổ chức trả thu nhập từ tiền lương, tiền công nếu có sai sót thì phải thực hiện khai bổ sung (kể cả trường hợp đã nộp hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN)

Hiện nay, Tổng cục Thuế đang nâng cấp ứng dụng eTax để thực hiện nhận tờ khai bổ sung. Dự kiến sau ngày 25/3/2022 DN có thể sử dụng ứng dụng để nộp tờ khai bổ sung. 

Câu hỏi 64: Công ty chúng tôi trả lương vào ngày 10 của tháng sau. Các khoản tiền thưởng như lương tháng 13, phép năm của năm trước được trả vào tháng 1 của năm sau. Ví dụ lương tháng 1/2022 được trả vào ngày 10/02/2022, chúng tôi kê khai tờ khai thuế TNCN tháng 1/2022 và nộp thuế vào ngày 20/02/2021, tờ khai kê khai sai kỳ tính thuế TNCN các tháng khác cũng như vậy… Hàng năm chúng tôi quyết toán thuế TNCN từ tiền lương, tiền công từ tháng 1 đến tháng 12 và các khoản thưởng của năm trước được trả vào năm sau. Các khoản thưởng năm 2020 và lương tháng 12/2020 chi trả vào 1/2021 đã quyết toán TNCN năm 2020. Cục Thuế hướng dẫn giúp chúng tôi điều chỉnh, kê khai và quyết toán thuế TNCN 2021 đúng theo quy định. Cảm ơn Cục thuế

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định pháp luật thuế TNCN tính thuế TNCN căn cứ thời điểm thực nhận. Do vậy, khi cá nhân thực nhận tiền tại thời điểm nào sẽ tính thuế tại thời điểm đó. Theo đó, Công ty anh chị tính thuế tại thời điểm cá nhân thực nhận các khoản lương, thưởng…

Câu hỏi 65: 1.Công ty tôi đơn phương chấm dứt HĐLĐ với người lao động, thì tiền bồi thường có phải là thu nhập chịu thuế không? Do tranh cãi việc này giữa NLĐ và công ty nên công ty viết chứng từ khấu trừ thuế TNCN cộng cả số tiền này vào TNCT và khấu trừ thuế TNCN của NLĐ, vậy nếu ko phải là TNCT thì khi quyết toán thuế TNCN NLĐ có thể được hoàn lại số thuế TNCN đã bị công ty khấu trừ không ạ? 2.Tiền trợ cấp điện thoại được ghi trong HĐLĐ có được loại khỏi TNCT không ạ? 3.Công ty dựa vào điều 4 luật LĐ 2019 là khuyến khích DN giải quyết theo hướng có lợi cho NLĐ, nên công ty vẫn tính số ngày chưa nghỉ phép và chi trả phép năm 2021 cho NLĐ . Vậy số tiền này có tính vào TNCT không ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

1. Căn cứ theo khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính và khoản 3 Điều 12 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm n khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định về các khoản thu nhập được miễn thuế thì khoản bồi thường thiệt hại do Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ngoài quy định của Bộ Luật Lao động thì phải tính vào thu nhập chịu thuế. Trường hợp khoản này theo đúng quy định của Bộ Luật Lao động thì được miễn thuế TNCN.

Trường hợp xác định sai TNCT, cá nhân có thể xác định lại khi quyết toán (có xác nhận cụ thể của Công ty) để quyết toán, hoàn thuế TNCN nếu có.

2. Phần khoán chi điện thoại cao hơn mức quy định của Nhà nước thì tính vào TNCT.

3. Theo quy định của Bộ Luật Lao động thì nếu người lao động chưa nghỉ phép hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ phép hàng năm được chi trả phép chưa nghỉ thì theo Luật thuế TNCN khoản tiền này có tính vào TNCT.

Câu hỏi 66: Tôi có vẫn đề thắc mắc xin được giải đáp: Tôi đang thực hiện quyết toán thuế TNCN 2021 cho người lao động. Trên phụ lục 05-1/BK – TNCN cột số 22 là tổng số thuế TNCN đã khấu trừ trong năm, tức là điền vào cột này số thuế TNCN của người LĐ trong năm đã khấu trừ và tạm nộp thuế. Tuy nhiên nếu trong năm tạm tính ra số thuế phải nộp của người LĐ (giả sử 5 triệu) nhưng DN chưa khấu trừ và chưa nộp thuế tạm tính này (DN đang nợ thuế) thi khi quyết toán có điền số thuế 5 triệu này vào cột 22 không ạ? Tôi xin cảm ơn!

Tổng cục Thuế trả lời:

Chỉ tiêu [22] trên bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN là tổng số thuế TNCN đã khấu trừ trong năm, do đó, theo quy định, các tờ khai QTT năm phải khớp với các tờ khai tháng, quý trong năm, dó đó, tổ chức đã khai tờ khai tháng , quý trong năm thì sẽ khai đầy đủ vào tờ khai quyết toán. Trường hợp khi QTT có thay đổi thì phải khai bổ sung lại các tờ khai, tháng quý trong năm.

Câu hỏi 67: Công ty tôi có trụ sở chính tại Hưng Yên và văn phòng đại diện tại Hà Nội (sau đây gọi là “VPĐD”). VPĐD chỉ phục vụ là địa điểm cho nhân viên ngồi làm việc, không có chức năng kinh doanh, không bổ nhiệm bất kỳ chức danh gì liên quan đến VPĐD, không kê khai nhân sự chuyên trách vụ vụ VPĐD. Các khoản trích theo lương của nhân viên làm việc tại VPĐD vẫn nộp về BHXH Hưng Yên. Theo Căn cứ điều 19, thông tư 80/2021/TT-BTC, thuế TNCN của nhân viên làm việc tại VPĐD ở Hà Nội sẽ nộp về cơ quan thuế Hà Nội hay cơ quan thuế Hưng Yên?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 80/2021/TT-BTC thì trường hợp doanh nghiệp có thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tại tỉnh khác với nơi NNT đóng trụ sở chính và DN chi trả tập trung cho người lao động làm việc tại chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh này thì DN phải:

– Khấu trừ thuế và kê khai thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tập trung tại trụ sở chính.

– Lập bảng phân bổ thuế cho các địa phương nơi người lao động làm việc.

– Nộp hồ sơ khai thuế, bảng phân bổ cho CQT quản lý trực tiếp trụ sở chính. 

Như vậy, DN chi trả thuế TNCN cho người lao động làm việc tại VPĐD tại Hà Nội thì Doanh nghiệp nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế Hưng Yên là cơ quan thuế quản lý trực tiếp doanh nghiệp và phân bổ thuế, nộp tiền vào NSNN cho TP Hà Nội nơi có người lao động làm việc tại VPĐD tại Hà Nội.

Câu hỏi 68: DN chúng tôi không có đối tượng nào phải nộp thuế TNCN, xin hỏi TCT công ty chúng tôi cần phải làm báo cáo quyết toán thuế TNCN như thế nào ạ ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điềm d, Khoản 6, Điều 8, Nghị định  126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020:  “Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế và quyết toán thuế TNCN thay cho cá nhân có ủy quyền. Trường hợp cá nhân uỷ quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức và có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đồng trở xuống thuộc diện được miễn thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn kê khai thông tin cá nhân được trả thu nhập đó tại hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân của tổ chức và không tổng hợp số thuế phải nộp thêm của các cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đổng trở xuống.”

Theo đó, DN vẫn phải thực hiện kê khai đầy đủ, tổng thu nhập chịu thuế và các chỉ tiêu liên quan trên bảng kê 05/QTT-TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế.

Câu hỏi 69: Tôi hiện ở Hà Nội, có một biệt thự cho chủ đầu tư thuê lại, thanh toán 6 tháng/ lần. Hiện có 3 kỳ thanh toán 1/2021, 7/2021, 1/2022. Tôi muốn dc hỗ trợ hướng dẫn thủ tục quyết toán thuế tncn online cho các khoản trên. Vậy nhờ tổng cục thuế giải đáp

Tổng cục Thuế trả lời:

Trường hợp anh/chị có biệt thự cho chủ đầu tư thuê lại, thanh toán 6 tháng/lần, thu nhập này là thu nhập từ hoạt động kinh doanh cho thuê tài sản. Theo quy định tại Luật thuế TNCN, Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Thông tư số 40/2021/TT-BTC thì từ năm 2015, chỉ có tổ chức, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế TNCN, thu nhập từ kinh doanh không thuộc trường hợp phải quyết toán thuế TNCN. Anh/chị thực hiện khai thuế điện tử đối với thu nhập từ cho thuê tài sản theo mẫu 01/TTS và phụ lục kèm theo theo quy định trên thuedientu.gdt.gov.vn để khai trực tuyến theo kỳ thanh toán hoặc theo năm.

Câu hỏi 70: Công ty em trả toàn bộ thuế TNCN cho người lao động, thì cuối năm quyết toán thuế TNCN tổng thu nhập chịu thuế trên HTKK được tính như sau: Tổng thu nhập chịu thuế= Tổng thu nhập tính thuế sau quy đổi+ các khoản giảm trừ+ bảo hiểm XH. Cách tính như trên có đúng không ah.

Tổng cục Thuế trả lời:

Trường hợp Công ty trả thay toàn bộ tiền thuế TNCN cho người lao động (trả lương không bao gồm thuế), khi quyết toán thuế TNCN, Công ty phải quy đổi thu nhập không bao gồm thuế thành thu nhập tính thuế của người lao động đó theo hướng dẫn tại Khoản 4 Điều 7 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.

Câu hỏi 71: Khi DN làm QT TNCN phát hiện số tiền thu nhập chịu thuế trên các tờ khai quý không khớp với số của tk QT TNCN năm, nhưng không làm thay đổi số thuế TNCN phải nộp của cả năm. Vậy Dn có phải nộp lại TK TNCN của quý bị sai ko, khi DN làm lại tk quý bị sai thì trên trang thuedientu lại báo lỗi, không nộp được tk bổ sung TNCN quý 1/2021

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại điểm d Khoản 6 Nghị Định số 126/2020/NĐ-CP thì trường hợp khai bổ sung không làm thay đổi nghĩa vụ thuế thì chỉ phải nộp Bản giải trình khai bổ sung và các tài liệu có liên quan, không phải nộp tờ khai bổ sung.

Câu hỏi 72: Nếu người lao động làm trọn vẹn tại đơn vị A hết năm 2021. Từ 1/1/2022 người lao động chuyển sang làm việc tại đơn vị B (đơn vị B cùng hệ thống với đơn vị A). Thì người lao động sẽ thực hiện quyết toán thuế tncn 2021 tại đơn vị A hay đơn vị B?

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại mục d.2,  điểm d, khoản 6, điều 8 nghị định 126/2020/NĐ-CP,  cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cụ thể như sau: Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm dương lịch. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.

Theo đó, cá nhân được điều chuyển từ đơn A đến đơn vị B trong cùng một hệ thống thì cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới (đơn vị B).

Câu hỏi 73: Tôi muốn hỏi, người lao động trong thử việc trừ 10% sau đó kí chính thức trừ theo lũy tiến, vậy cuối năm tôi sẽ kê khai người đó ở 05.1bk hay kê khai ở cả 05.1 và 05.2 ạ,

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Như vậy, trường hợp người lao động trong năm vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo thuế suất 10% vừa có số thuế TNCN được khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, nếu người lao động có ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại Bảng kê 05-1 cho toàn bộ thu nhập chịu thuế trong năm (bao gồm cả phần thu nhập được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến và theo mức thuế suất 10%). Nếu người lao động đó không ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, anh/chị kê khai cá nhân đó tại cả hai bảng kê 05-1 (thu nhập chịu thuế được khấu trừ theo biểu lũy tiến )  và 05-2 (thu nhập được khấu trừ theo mức thuế suất 10%).

Câu hỏi 74: Doanh nghiệp có ký hợp đồng với tư vấn viên, theo hợp đồng phải trả 70 triệu 1 tháng cho tư vấn viên kia, nhận tiền vào cuối tháng, tôi muốn hỏi khoản phí tư vấn này có phải khấu trừ thuế TNCN hàng tháng không? mức khấu trừ bao nhiêu %? và hết năm doanh nghiệp xuất chứng từ gì để cho Tư vấn viên kia họ tự quyết toán thuế TNCN ? Nếu phải khấu trừ thuế TNCN hàng tháng thì thuế này kê khai vào loại tờ khai nào? (khoản phí tư vấn này hạch toán vào chi phí doanh nghiệp TK642, hạch toán vào chi phí DN TK642 có đúng không ạ?

Tổng cục Thuế trả lời:

Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 2, Thông tư 111/2013/TT-BTC, tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như tiền dịch vụ, thù lao khác là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Do đó, theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao đồng (theo điểm c Khoản 2 Điều 2 Thông tư này) thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Căn cứ Khoản 2 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, tổ chức trả thu nhập đã khấu trừ thuế TNCN phải cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thì không cấp chứng từ khấu trừ.

Trường hợp tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế TNCN hàng tháng thì tổ chức kê khai Tờ khai thuế TNCN (áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công) mẫu số 05/KK-TNCN ban hành kèm theo Phụ lục II, Thông tư 80/2021/TT-BTC.

Câu hỏi 75: Mẫu số:05-1/BK-QTT-TNCN Báo lỗi ở cột tổng số tiền giảm trừ gia cảnh sô lượng NPT tính giảm trừ 1+ giảm trừ bản thân cả năm 2021. Tổng số tiền giảm trừ gia cảnh là 184.800.000đ khi ghi báo lỗi, mặc dù đã nhập ở mẫu số:05-2/BK-QTT-TNCN

Tổng cục Thuế trả lời:

Ứng dụng xây dựng trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các phụ lục lên tờ khai hoặc đối chiếu các phụ lục có dữ liệu liên quan với nhau, vì vậy nếu có số liệu ở phụ lục thì NNT phải khai phụ lục trước.

Trường hợp này tổng số tiền giảm trừ gia cảnh là 184.800.000đ tức là ngoài giảm trừ cho bản thân còn giảm trừ cho người phụ thuộc, vậy để không bị lỗi chỉ tiêu 17- Tổng số tiền giảm trừ gia cảnh trên phụ lục 05-1/BK-TNCN thì NNT phải khai đầy đủ Bảng kê 05-3 theo từng MST. 

Câu hỏi 76: Doanh nghiệp có trụ sở – nhà máy tại tỉnh khác, có thuê 1 văn phòng tại Hà Nội để làm địa điểm tập hợp đưa đón nhân viên từ Hà Nội xuống nhà máy và để tiếp khách khi có khách đến giao dịch (đã đăng ký và được cấp phép hoạt động văn phòng đại diện không có chức năng kinh doanh). Vậy doanh nghiệp có phải phân bổ thuế TNCN khi nộp thuế cho Hà Nội không vì toàn bộ nhân viên làm việc chính là ở nhà máy.

Tổng cục Thuế trả lời:

Theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 80/2021/TT-BTC thì trường hợp doanh nghiệp có thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tại tỉnh khác với nơi NNT đóng trụ sở chính và DN chi trả tập trung cho người lao động làm việc tại chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh này thì DN phải:

– Khấu trừ thuế và kê khai thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tập trung tại trụ sở chính

– Phải lập bảng phân bổ thuế cho các địa phương nơi người lao động làm việc 

– Nộp hồ sơ khai thuế, bảng phân bổ cho CQT quản lý trực tiếp trụ sở chính. 

Đề nghị Doanh nghiệp căn cứ tình hình thực tế về việc chi trả thu nhập cho người lao động của trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh để thực hiện khấu trừ thuế và kê khai thuế, phân bổ thuế TNCN theo quy định nêu trên.

Câu hỏi 77: Phụ biểu 05-1/BK-TNCN (cột 17) số tiền giảm trừ gia cảnh báo lỗi mặc dù đơn vị đã kiểm tra chính xác

Tổng cục Thuế trả lời:

Ứng dụng xây dựng trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các phụ lục lên tờ khai hoặc đối chiếu các phụ lục có dữ liệu liên quan với nhau, vì vậy nếu có số liệu ở phụ lục thì NNT phải khai phụ lục trước.

Trường hợp này để không bị lỗi chỉ tiêu 17- Tổng số tiền giảm trừ gia cảnh trên phụ lục 05-1/BK-TNCN thì NNT phải khai đầy đủ Bảng kê 05-3 theo từng MST. 

Thuê người giao nhận hàng hóa, phải khấu trừ 10% thuế TNCN nếu không có HĐLĐ
Trường hợp Công ty thuê cá nhân thực hiện dịch vụ giao nhận hàng hóa, nếu không có HĐLĐ và là cá nhân không kinh doanh thì phải khấu trừ thuế theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Theo đó, khi trả tiền dịch vụ, Công ty khấu trừ 10% thuế TNCN khi chi trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên

Công văn số 4910/TCT-DNNCN ngày 15/12/2021 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN đối với khoản chi trả cho cá nhân cung cấp dịch vụ không thường xuyên
Lương của chủ công ty TNHH MTV có bị tính thuế TNCN không?
Theo hướng dẫn tại Công văn số 1590/TCT-DNNCN ngày 22/4/2019, tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền thuê nhà và các dịch vụ khác kèm theo của giám đốc đồng thời là chủ công ty TNHH MTV không được tính vào làm chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp

Tuy nhiên, khoản lương của chủ công ty TNHH MTV không bị tính thuế TNCN theo quy định tại Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Công văn số 46421/CTHN-TTHT ngày 15/11/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về các khoản chi của Công ty TNHH MTV cho giám đốc đồng thời là chủ sở hữu
Những chi phí liên quan đến Covid-19 được tính vào làm chi phí được trừ và miễn thuế TNCN
Đối với các khoản chi phí cách ly y tế do dịch Covid – 19 ở trong nước và tại nước ngoài đối với trường hợp đi công tác tại nước ngoài (chi phí tiền ăn, tiền ở; chi phí xét nghiệm Covid – 19; chi phí đưa đón từ nơi nhập cảnh vào Việt Nam hoặc từ nơi phát hiện đối tượng phải thực hiện cách ly y tế đến cơ sở cách ly y tế; chi phí phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong những ngày cách ly y tế; …) để thực hiện theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các khoản chi phí xét nghiệm Covid – 19 hoặc mua kit xét nghiệm Covid – 19 cho người lao động, chi phí mua các thiết bị cho người lao động nhằm bảo vệ người lao động khỏi nguy cơ lây nhiễm trong quá trình làm việc và các chi phí ăn, ở của người lao động ở tại doanh nghiệp hoạt động theo phương án “3 tại chỗ” thì các khoản chi phí này được tính vào chi phí được trừ khi thuế thu nhập doanh nghiệp và không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Công văn số 4110/TCT-DNNCN ngày 27/10/2021 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế đối với khoản chi phí liên quan đến dịch Covid-19
Tặng quà cho nhân viên có phải khấu trừ thuế TNCN?
Theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, quà tặng bằng tài sản chỉ phải chịu thuế TNCN nếu là: chứng khoán, phần vốn góp, bất động sản và tài sản khác thuộc diện phải đăng ký sở hữu.

Theo đó, trường hợp Công ty tặng quà (bằng hiện vật) cho nhân viên, nếu không thuộc những tài sản kể trên thì được miễn khấu trừ thuế TNCN.

Đối với phiếu quà tặng mua hàng (Voucher), căn cứ điểm đ.3.2 khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, nếu chứng từ chi trả ghi rõ tên cá nhân được hưởng hoặc chi bằng tiền mặt thì phải khấu trừ thuế TNCN.
Ngược lại, nếu chứng từ chi trả không ghi đích danh cá nhân được hưởng mà chi chung cho tập thể nhân viên thì được miễn thuế TNCN.a

Theo Công văn số 34268/CTHN-TTHT ngày 8/9/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chính sách thuế TNCN đối với thu nhập từ nhận quà tặng
Phụ cấp thêm cho lao động thử việc phải tính thuế TNCN
Khi chi trả thêm cho người lao động thử việc (không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN) cùng lúc với kỳ lương một khoản tiền được xác định là các khoản lợi ích bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công mà người lao động được hưởng thì phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân.
Theo Công văn số 32076/CTHN-TTHT ngày 19/8/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thuế TNCN đối với khoản chi trả thêm cho lao động thử việc
Khoán công tác phí, nếu phù hợp với quy chế sẽ được hạch toán đồng thời miễn thuế TNCN
Công tác phí khoán cho người lao động đi công tác nếu phù hợp với quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của doanh nghiệp thì được hạch toán vào chi phí hợp lý, đồng thời được miễn khấu trừ thuế TNCN.

“Công tác phí” được hiểu bao gồm tiền đi lại, tiền ở và tiền phụ cấp (khoản 2 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC, khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC

Theo Công văn số 10858/CTHN-TTHT ngày 9/4/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thuế TNDN, TNCN đối với khoản chi công tác phí
Tặng quà cho nhân viên có phải khấu trừ thuế?
“Quà tặng” chỉ bị tính thuế TNCN nếu là: chứng khoán, vốn góp, bất động sản và những tài sản phải đăng ký sở hữu (xe máy, ô tô, tàu thuyền, ….) (khoản 10 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC).

Theo đó, khi Công ty tặng quà bằng hiện vật cho nhân viên, chỉ phải khấu trừ thuế TNCN nếu thuộc những tài sản kể trên.

Trường hợp tặng những tài sản khác thì được miễn khấu trừ thuế.

Theo Công văn số 10145/CTHN-TTHT ngày 5/4/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thuế TNCN đối với quà tặng cho nhân viên
Trả tiền công theo hợp đồng dịch vụ phải khấu trừ thuế TNCN 10%
Trường hợp công ty ký hợp đồng dịch vụ (Không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng) với các cá nhân cung cấp dịch vụ thì phi phát sinh chi trả thu nhập với tổng mức thu nhập từ 2 triệu/lần trở lên 

thì Công ty phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%

Theo Công văn số 10144/CTHN-TTHT ngày 5/4/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chính sách thuế TNCN
Khoản bồi thường do chấm dứt HĐLĐ sai luật không được miễn thuế TNCN
Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư 92/2015/TT-BTC, các khoản bồi thường được miễn thuế TNCN chỉ bao gồm: bồi thường bảo hiểm; bồi thường tai nạn lao động; bồi thường đất; bồi thường từ nhà nước khi xử phạt, buộc tội không đúng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo luật dân sự. 

heo đó, các khoản bồi thường khi cho người lao động nghỉ việc trái pháp luật như: bồi thường tiền lương trong thời gian không được làm việc, bồi thường 2 tháng lương do chấm dứt HĐLĐ trái luật, khoản truy thu do chênh lệch mức đóng BHXH không thuộc diện miễn thuế TNCN. Khi chi trả, bắt buộc phải khấu trừ thuế.

Cần lưu ý, các khoản chi trả tiền bồi thường sau khi đã chấm dứt HĐLĐ phải tính thuế TNCN theo tỷ lệ 10%, không áp dụng biểu lũy tiến (khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC
Phía doanh nghiệp vẫn được hạch toán chi phí bồi thường do chấm dứt HĐLĐ trái luật nếu đáp ứng các điều kiện tại khoản 1 Điều 4 và không thuộc các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC

Công văn số 3453/CTHN-TTHT ngày 27/1/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chính sách thuế đối với khoản phải trả cho cá nhân do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 

Nộp thiếu thuế do khai sai người phụ thuộc, xử phạt công ty hay người lao động?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, người nộp thuế (tức người lao động) phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc kê khai người phụ thuộc.
Trường hợp khai trùng người phụ thuộc khi kê khai giảm trừ gia cảnh dẫn đến đơn kê khai thiếu tiền thuế TNCN và Trường hợp cá nhân có nhiều nguồn thu nhập nhưng ủy quyền quyết toán thuế TNCN dẫn đến công tu kê khai sau phát sinh số tiền hoàn thuế thì Cơ quan thuế xử phạt đối với hành vi khai sai của người nộp thuế theo q uy định của Luật Quản Lý ThuếCông ty trả thu nhập có trách nhiệm thông báo, làm việc với cá nhân và tổng hợp, kê khai nộp đủ số thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật
Việc xử phạt khai sai được thực hiện theo theo khoản 1, khoản 2 điều 12 của Thông tư số 166/2013/TT-BTC về sử phạt vi phạm hành chính thuế
Theo Công văn số 3254/TCT-DNNCN ngày 10/8/2020 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN
1 ngày lương đóng góp cho Quỹ phòng chống thiên tai được giảm trừ khi thuế TNCN không?
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 94/2014/NĐ-CP, hằng năm, mỗi người lao động sẽ phải đóng góp 1 ngày lương (tính theo mức lương tối thiểu vùng) vào Quỹ phòng chống thiên tai.

trường hợp người lao động tại các tổ chức có đóng góp vào Quỹ phòng chống thiên tai được thành lập theo quy định tại Nghị định số 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ thì người lao động được tính giảm trừ đối với khoản đóng góp nêu trên vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.

Riêng đối với doanh nghiệp, mức đóng góp bắt buộc cho Quỹ này tính theo tỷ lệ 2/10.000 trên tổng giá trị tài sản theo báo cáo tài chính, tối thiểu không ít hơn 500.000 đ và tối đa không quá 100 triệu đồng. Khoản này đóng góp bắt buộc này của doanh nghiệp cũng được hạch toán vào chi phí khi tính thuế TNDN. Chứng từ hạch toán chỉ cần có phiếu thu và phiếu chi (Công văn số 1881/TCT-CS ngày 5/5/2016)

Theo Công văn số 3275/TCT-DNNCN ngày 11/8/2020 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNCN
Làm việc bán thời gian có được tính thuế lũy tiến?
đối với người lao động làm việc bán thời gian nhưng giao kết hợp đồng từ 3 tháng trở lên thì vẫn được khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến.
Quy định về khấu trừ thuế TNCN tại khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC không phân biệt người lao động làm việc toàn thời gian hay bán thời gian.
Theo Công văn số 947/CT-TTHT ngày 10/2/2020 của Cục Thuế TP. HCM về thuế TNCN 
Công tác phí khoán hằng tháng có chịu thuế TNCN?
Theo Cục thuế TP. HCM, trường hợp Công ty khoán tiền công tác phí hàng tháng cho người lao động theo một mức cố định, nếu người lao động thực tế có đi công tác và mức khoán phù hợp với quy chế thì được miễn khấu trừ thuế TNCN.

Công tác phí khoán cho người lao động nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC thì được hạch toán vào chi phí hợp lý.

Theo Công văn số 725/CT-TTHT ngày 21/1/2020 của Cục Thuế TP. HCM
Đóng thay BHXH cho người lao động có phải khấu trừ thuế TNCN?
Theo Cục thuế TP. HCM, trường hợp Công ty trả thay các khoản bảo hiểm bắt buộc thuộc nghĩa vụ đóng của người lao động (BHXH, BHYT, BHTN) thì các khoản chi trả này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

Tuy nhiên, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc sẽ được giảm trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC .

Theo Công văn số 9653/CT-TTHT ngày 4/9/2019 của Cục Thuế TP. HCM
Tiền hỗ trợ thôi việc, khấu trừ theo biểu lũy tiến hay tỷ lệ?
Tùy thuộc thời điểm chi trả tiền hỗ trợ cho lao động nghỉ việc là trước hay sau khi thôi việc, sẽ khấu trừ thuế TNCN theo cách khác nhau.

Theo đó, nếu chi trả trước thời điểm người lao động thôi việc thì được tính và khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến (điểm b khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC ).

Ngược lại, nếu chi trả sau thời điểm người lao động thôi việc thì phải tính và khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% (điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC ).

Người lao động có nghĩa vụ quyết toán thuế TNCN theo biểu lũy tiến trên toàn bộ tiền lương, bao gồm cả khoản tiền hỗ trợ nêu trên.

Theo Công văn số 7044/CT-TTHT ngày 8/7/2019 của Cục Thuế TP. HCM
Theo thỏa thuận tại hợp đồng lao động trên 3 tháng, khi Công ty A chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, Công ty A sẽ hỗ trợ nhân viên một khoản trợ cấp tài chính (2 tháng lương). Vậy, Công ty A sẽ thực hiện khấu trừ thuế TNCN như thế nào với khoản hỗ trợ này?
Trường hợp Công ty chi trả các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho người lao động (ký hợp đồng lao động với Công ty từ 03 tháng trở lên) do Công ty chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì:

+ Đối với khoản trợ cấp mất việc làm cho người lao động nghỉ việc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của người lao động.

+ Đối với khoản trợ cấp mất việc làm cho người lao động nghỉ việc cao hơn mức quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động thì Công ty thực hiện tổng hợp cùng với tiền lương, tiền công để khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần trước khi chi trả.

Trường hợp Công ty chi trả cho người lao động khoản hỗ trợ tài chính bằng 02 tháng lương sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động, nếu khoản chi này từ hai hiệu (2.000;000) đồng trở lên thì Công ty phải khấu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên tổng thu nhập chi trả.

Theo văn bản số 39722/CT-TTHT ngày 29/5/2019 của Cục Thuế Hà Nội
Bà A là cán bộ đã nghỉ hưu, đang được hưởng lương hưu theo quy định. Sau khi nghỉ hưu, bà A có làm thêm tại một công ty và được chi trả tương đương mức đóng BHXH, BHYT bắt buộc.Vậy khoản thu nhập này của bà A là khoản thu nhập chịu thuế hay thu nhập miễn thuế TNCN?
Theo quy định của Luật thuế TNCN, khoản tiền lương hưu của bà A là khoản thu nhập được mễn thuế TNCN.
Còn khoản tiền Công ty chi trả cho bà A tương đương mức đóng BHXH, BHYT bắt buộc tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động.
Theo điểm k, điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 và công văn số 29570/CT-TTHT ngày 14/5/2018 của Cục Thuế TP Hà Nội
Công ty chi trả phụ cấp tiền thuê nhà hoặc tiền nhà ở, điện thoại cho người lao động có tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động không?
Công ty trả phụ cấp tiền thuê nhà hoặc tiền nhà ở, điện thoại cho người lao động, ghi cụ thể Điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty thì:

 

– Khoản phụ cấp tiền thuê nhà, tiền nhà ở: Khoản tiền thuê nhà, điện nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do Công ty trả hộ tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động theo số thực tế trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) tại đơn vị không phân biệt nơi trả thu nhập. Khoản phụ cấp tiền thuê nhà, tiền nhà ở này được tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công và được tính theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

 

–  Khoản phụ cấp tiền điện thoại: Công ty chi tiền điện thoại cho người lao động trong mức khoán chi quy định thì khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân là thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN, chi tiền điện thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn mức khoán chi quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

Theo công văn số 1166/TCT- TNCN ngày 21/3/2016; 450/TCT-TNCN ngày 04/1/2018 của Tổng cục Thuế; công văn 4875/CT-TTHT ngày 30/01/2018; 79557/CT-TTHT ngày 03/12/2018 của Cục Thuế TP Hà Nội
Cơ quan chi trả thu nhập khi thực hiện đăng ký mã số thuế cho người lao động. Kết quả hệ thống Thuế báo về là số CMND đăng ký bị trùng với dữ liệu của người nộp thuế khác thì thực hiện như thế nào?
Bước 1: Cơ quan chi trả thu nhập kiểm tra MST trùng (tại thông báo của cơ quan thuế báo về) trên hệ thống tra cứu MST cá nhân của cơ quan thuế tại địa chỉ:

https://www.tncnonline.com.vn/Pages/TracuuMST.aspx hoặc

http://tracuunnt.gdt.gov.vn/tcnnt/mstdn.jsp

Bước 2:

* Trường hợp 1: Kết quả trên hệ thống tra cứu ra thông tin của một người khác với người lao động đang đăng ký MST của đơn vị thì Cơ quan chi trả thu nhập chuẩn bị các hồ sơ sau nộp tại Bộ phận một cửa của cơ quan thuế quản lý:

– Danh sách kết quả báo trùng CMND do cơ quan thuế trả kết quả cho đơn vị.

– Mẫu đăng ký thuế 05-ĐK-TCT theo thông tư 95/2016/BTC do người đăng ký mã số thuế kê khai.

– Chứng minh thư photo của người đăng ký mã số thuế của người nộp thuế.

* Trường hợp 2: Kết quả trên hệ thống tra cứu không ra thông tin thì đề nghị liên hệ với cơ quan thuế quản lý để thực hiện tra cứu. Trường hợp MST trùng là MST người phụ thuộc của NNT đang đăng ký MST thì cơ quan chi trả hướng dẫn người lao động thực hiện chuyển đổi MST người phụ thuộc thành MST người nộp thuế như sau:

Cá nhân có mã số thuế phụ thuộc thực hiện kê khai theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo thông tư 95/2016/BTC, đính kèm bản photo CMTND/ CCCD, mẫu 05-ĐK-TCT và nộp tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế các cấp (lưu ý: phần thông tin mới tại mẫu số 08-MST điền đầy đủ số chứng minh thư, ngày cấp, nơi cấp; địa chỉ hộ khẩu)

Công ty A trong năm có thuê một số cá nhân làm thời vụ không có CMTND, vậy Công ty có cần đăng ký thuế cho các cá nhân không có CMTND này không?
ông dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân trừ các trường hợp tạm thời chưa được cấp Chứng minh thư nhân dân theo quy định; đồng thời các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm thực hiện đăng ký thuế theo quy định.

Do đó chỉ các cá nhân tạm thời chưa được cấp CMND theo quy định thì tạm thời chưa được cấp mã số thuế.

Theo công văn số 14677/CT-TTHT ngày 04/4/2018 của Cục Thuế TP Hà Nội
Khi người nộp thuế muốn thay đổi thông tin đăng ký thuế như: thay đổi CMND/ CCCD, thay đổi do sai tên hoặc thay đổi cơ quan thuế quản lý mã số thuế thì thực hiện như thế nào?
Để thay đổi thông tin đăng ký thuế như: thay đổi CMND, thay đổi do sai tên hoặc thay đổi cơ quan thuế quản lý mã số thuế thì:

Cách 1: NNT thay đổi thông tin trực tiếp với cơ quan thuế:

Người nộp thuế thực hiện kê khai các thông tin muốn thay đổi tại mẫu 08-MST theo thông tư 95/2016/BTC và đính kèm CMTND/CCCD bản photo hoặc bản photo các tài liệu có liên quan đến việc thay đổi thông tin nộp tại cơ quan quản lý thuế trực tiếp cấp MST cho cá nhân.

Cách 2: áp dụng đối với trường hợp người nộp thuế và cơ quan chi trả thu nhập do cùng một cơ quan thuế quản lý thì NNT có thể thay đổi thông tin qua cơ quan chi trả thu nhập

– Cá nhân gửi bản photo các giấy tờ có liên quan đến thay đổi thông tin cho cơ quan chi trả thu nhập.

– Cơ quan chi trả thu nhập lập Tờ khai mẫu số 05-ĐK-TH-TCT theo Thông tư 95/2016/BTC. Trên tờ khai đánh dấu vào ô “Thay đổi thông tin đăng ký thuế” và ghi các thông tin đăng ký thuế có thay đổi.

– Cơ quan chi trả thu nhập gửi cơ quan thuế quản lý đơn vị.

+ Nếu đơn vị không có chữ ký số thì nộp bản giấy biểu 05/ĐK – TH- TCT có xác nhận của đơn vị và đính kèm photo CMTND/ thẻ căn cước của cá nhân thay đổi thông tin tới BPMC của cơ quan thuế.

+ Trường hợp đơn vị có chữ ký số thì gửi file mềm biểu 05/ĐK – TH- TCT trên hệ thống thuedientu.gdt.gov.vn và không phải nộp bản giấy tới cơ quan thuế (hồ sơ thay đổi thông tin lưu tại cơ quan chi trả thu nhập).

Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 13 Thông tư số 95/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính
Người phụ thuộc được đăng ký giảm trừ gia cảnh thuộc trường hợp quy định  không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng thì có phải xin xác nhận của phường xã về mức thu nhập hay không?
Ttrường hợp người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì hồ sơ chứng minh đối với người phụ thuộc thực hiện tương ứng theo điểm g, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Trường hợp người nộp thuế kê khai người phụ thuộc không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 (một) triệu đồng thì người nộp thuế phải cam kết và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin người phụ thuộc.

(Không phải xin xác nhận thu nhập không quá 1 triệu)

Theo công văn số 95765/CT-TTHT ngày 31/12/2019 của Cục Thuế TP Hà Nội
Cá nhân đang có MST là người phụ thuộc muốn chuyển đổi sang MST người nộp thuế thì thực hiện như thế nào?
Cá nhân có mã số thuế phụ thuộc thực hiện kê khai theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo thông tư 95/2016/BTC, đính kèm bản photo CMTND/ CCCD, mẫu 05-ĐK-TCT và nộp tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế các cấp (lưu ý: phần thông tin mới tại mẫu số 08-MST điền đầy đủ số chứng minh thư, ngày cấp, nơi cấp; địa chỉ hộ khẩu)
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 13 Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/6/2016 của Bộ Tài chính
Trường hợp cá nhân tự đăng ký người phụ thuộc (không qua cơ quan chi trả thu nhập) thì thực hiện như thế nào?
Đối với trường hợp người nộp thuế muốn tự đăng ký người phụ thuộc mà:

– MST của người nộp thuế thuộc chi cục thuế quản lý thì thực hiện việc đăng ký người phụ thuộc tại chi cục thuế quận huyện nơi có hộ khẩu hoặc nơi đăng ký tạm trú, tạm vắng.

 – MST của người nộp thuế thuộc Cục Thuế quản lý thì thực hiện các bước sau:

+ Thực hiện mẫu 08-MST và photo CMTND đính kèm nộp tại bộ phận một cửa Cục Thuế để chuyển mã số thuế NNT về chi cục thuế nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú tạm vắng.

+ Sau đó thực hiện hồ sơ đăng ký người phụ thuộc nộp tại CCT nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú tạm vắng.

Căn cứ Điểm d khoản 5 Điều 8 Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/6/2016 của Bộ Tài chính
Trường hợp nộp hồ sơ QTT TNCN sau thời gian quy định (sau ngày 30/03/2020) hoặc không nộp hồ sơ QTT TNCN thì có bị phạt không và mức phạt như thế nào?
– Cá nhân có số thuế nộp thừa nếu không nộp hồ sơ quyết toán thuế (do không có nhu cầu hoàn thuế) hoặc muốn hoàn thuế nhưng nộp hồ sơ sau ngày 30/03/2020 thì không bị phạt.  

(Cá nhân có số thuế nộp thừa có thể nộp hồ sơ QTT vào bất kì thời điểm nào trong năm);

– Cá nhân có số thuế TNCN phải nộp thêm năm 2019 và nộp hồ sơ QTT sau ngày 30/3/2020 thì sẽ bị áp dụng các mức phạt sau đây:

+ Nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định. Mức phạt phụ thuộc vào thời gian chậm nộp hồ sơ khai thuế quy định tại Điều 9 Thông tư 166/2013/TT-BTC;

+ Nộp tiền chậm nộp tiền thuế TNCN tính như sau: Số tiền chậm nộp = Số tiền thuế chậm nộp X 0,03% X Số ngày chậm nộp.

Căn cứ Điều 9 Thông tư 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 và khoản 3 Điều 3 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính
Công ty A nộp mẫu đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế trên hệ thống Thuế cho người phụ thuộc chưa có MST và kết quả trả về báo người phụ thuộc này bị trùng giấy tờ tùy thân với một MST của một người khác thì phải thực hiện ra sao?
Công ty A chuẩn bị những giấy tờ sau để nộp tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế quản lý đơn vị để cơ quan thuế cấp mã số thuế mới cho người phụ thuộc:

– Danh sách báo lỗi trùng của cơ quan thuế gửi lại cho đơn vị.

– Giấy khai sinh hoặc chứng minh thư phô tô của người phụ thuộc bị báo trùng thông tin.

– Mẫu 20-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC của người nộp thuế đăng ký người phụ thuộc (bản photo).

– Toàn bộ hồ sơ chứng minh nghĩa vụ nuôi dưỡng theo đúng quy định tại thông tư 95/2016/TT-BTC (bản photo).

Công ty B nộp mẫu đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế trên hệ thống Thuế cho người phụ thuộc và kết quả trả về báo người phụ thuộc này bị trùng năm dương lịch với một MST thì phải xử lý thế nào?
Công ty chuẩn bị những giấy tờ sau và nộp tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế quản lý đơn vị:

– Danh sách hồ sơ báo lỗi trùng của cơ quan thuế gửi lại cho đơn vị.

– Giấy khai sinh hoặc chứng minh thư của người phụ thuộc (bản photo).

– Mẫu 20-ĐK-TCT của người nộp thuế đăng ký người phụ thuộc (photo).

– Toàn bộ hồ sơ chứng minh nghĩa vụ nuôi dưỡng theo đúng quy định tại thông tư 95/2016/BTC (bản photo).

Cơ quan thuế sẽ xem xét trường hợp này có người đăng ký giảm trước đó hay chưa hoặc bên đã đăng ký người phụ thuộc phải thực hiện cắt giảm trừ người phụ thuộc tròn năm dương lịch, sau đó mới đăng ký người phụ thuộc cho người nộp thuế khác.

Tất cả các cá nhân có thu nhập đều phải thực hiện quyết toán thuế TNCN có đúng không?
Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phải thực hiện QTT TNCN nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

– Phát sinh số thuế phải nộp thêm;

– Có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo;

Căn cứ khoản 3 Điều 21 Thông tư 92/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính
Cá nhân nào phải thực hiện QTT trực tiếp với cơ quan thuế?
Cá nhân phải tự thực hiện QTT trực tiếp với cơ quan thuế trong các trường hợp sau:

1) Cá nhân thuộc các trường hợp được ủy quyền cho tổ chức quyết toán thay nhưng đã được cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN (trừ trường hợp chứng từ khấu trừ thuế đã bị thu hồi và hủy).

 

2) Cá nhân không thuộc trường hợp được ủy quyền cho tổ chức quyết toán thay, bao gồm:

+ Cá nhân chỉ có thu nhập vãng lai đã khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.

+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên tại một NSDLĐ, đồng thời có thu nhập vãng lai trên 10 triệu đồng/tháng hoặc chưa khấu trừ thuế (bao gồm trường hợp chưa đến mức khấu trừ và đã đến mức khấu trừ nhưng không khấu trừ).

+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên tại 02 đơn vị trở lên trong năm.

+ Cá nhân trong năm có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức trả thu nhập nhưng thực tế không còn làm việc tại đó đến hết năm 2019.

+ Cá nhân trong năm không ký hợp đồng lao động, hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng.

3) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện xét giảm thuế do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo.

4) Cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam phải khai quyết toán thuế với cơ quan thuế trước khi xuất cảnh.

          Lưu ý: Trường hợp cá nhân xác định không phải nộp thêm thuế TNCN khi quyết toán hoặc có số thuế nộp thừa nhưng không có nhu cầu hoàn lại thì không cần phải thực hiện quyết toán thuế TNCN với cơ quan Thuế.

Căn cứ điểm d Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính
Người nộp thuế A đăng ký giảm trừ người phụ thuộc X từ tháng 01/2019, đến tháng 07/2019 người nộp thuế A cắt giảm trừ người phụ thuộc X hết tháng 6/2019 để người nộp thuế B (vợ của A) đăng ký giảm trừ người phụ thuộc X từ tháng 07/2019 có được không?
 Không được. Do mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thoả thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế.
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính
Công ty A ký hợp đồng lao động với cá nhân là hộ kinh doanh thì việc khấu trừ thuế TNCN được thực hiện như thế nào?
Công ty A ký hợp đồng lao động với cá nhân thì Công ty thực hiện các quy định về khấu trừ Thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thực hiện quyết toán Thuế TNCN theo ủy quyền của cá nhân theo quy định, không phân biệt cá nhân là chủ hộ kinh doanh hay không phải là chủ hộ kinh doanh.

 

            Công ty A ký hợp đồng dịch vụ với cá nhân đáp ứng tác điều kiện là thương nhân như: có đăng ký kinh doanh cùng ngành nghề hoặc có đăng ký thuế theo hình thức hộ kinh doanh cùng ngành nghề với hợp đồng dịch vụ, thì Công ty không khấu trừ thuế TNCN mà cá nhân (hộ kinh doanh) phải cấp hóa đơn (nếu thuộc diện được sử dụng hóa đơn) hoặc lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn mẫu số 01/TNDN (nếu không thuộc diện được sử dụng hóa đơn).

            Công ty A ký hợp đồng với cá nhân khác với trường hợp nêu trên thì Công ty thực hiện khấu trừ theo quy định về tiền lương, tiền công theo thuế suất 10% trước khi trả cho cá nhân.

Theo công văn số 2355/TCT-DNNCN ngày 10/06/2019 của Tổng cục Thuế
Công ty A thực hiện trả lương NET cho lao động người nước ngoài. Theo hợp đồng ký kết, công ty sẽ tra tiền thuê nhà và thuế TNCN cho người lao động. Hàng tháng, công ty thực hiện quy đổi thu nhập chưa bao gồm thuế (NET) ra thu nhập bao gồm thuế (GROSS) theo thu nhập thực nhận của từng tháng để kê khai nộp thuế TNCN. Vậy, khi công ty quyết toán thuế TNCN có phải xác định lại thu nhạp NET bình quân để tính thu nhập GROSS không?
Công ty chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công NET (chưa bao gồm thuế TNCN, tiền thuê nhà…) cho nhân viên nước ngoài thì khi tính thuế TNCN phải thực hiện quy đổi sang thu nhập đã bao gồm thuế theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Khi công ty quyết toán thuế TNCN, thu nhập tính thuế cả năm là tổng thu nhập chịu thuế của từng tháng được xác định trên cơ sở đã quy đổi theo thu nhập thực nhận từng tháng.
Theo công văn số 25768/CT-TTHT ngày 28/4/2017 của Cục Thuế TP Hà Nội